Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 267/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24-6-2024

V/v tranh chấp xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Mỹ Lil.

Bà Lâm Yến Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2024/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành O, sinh năm 1999 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp F, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Sơn Thị Q, sinh năm 1998 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 6, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở: Khóm Biển Trên A, xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Thành O trình bày: Anh và chị Sơn Thị Q tự nguyện thành hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Thời gian chung sống thường xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải và không còn thương yêu, chăm sóc cho nhau, bản thân chị Q không quan tâm đến cuộc sống gia đình dến đến thiếu niềm tin trong cuộc sống, do không hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị Q.

Về con chung của anh và chị Q có một người tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 13/12/2021 đang ở với anh O, sau khi ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và đề nghị vắng mặt.

Ý kiến chị Sơn Thị Q: Chị xác định thời gian chung sống với anh O do mâu thuẫn xảy ra trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị đồng ý ly hôn với anh O.

Về phần con chung của chị và anh O có một người như anh O trình bày, sau khi ly hôn chị thống nhất để con cho anh O nuôi, không cấp dưỡng.

Tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết và đề nghị vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của anh Nguyễn Thành O được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Anh Nguyễn Thành O và chị Sơn Thị Q có yêu cầu vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh O và chị Q.

[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh O và chị Q được xác lập vào năm 2021, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Quá trình anh O và chị Q chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng và không tin tưởng lẫn nhau làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Bản thân anh O và chị Q đều xác định không thể tiếp tục sóng chung và đồng ý ly hôn với nhau. Thực tế, anh chị đã sống ly thân nhau, thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Xét thấy, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận thuận tình ly hôn giữa anh O và chị Q là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình..

[4] Về con chung: Anh O và chị Q có một người con chung, sau khi ly hôn chị Q thống nhất để anh O nuôi con, mặc dù con của anh chị chưa đủ 36 tháng tuổi nhưng từ khi anh chị không ở chung với nhau thì con của anh chị sống cùng anh O, đã có sự gắn bó và có tình yêu thương đối với anh O. Hơn nữa, anh O có đủ điều kiện, khả năng nuôi con, thời gian con sống cùng anh O vẫn phát triển bình thường và phía chị Q vẫn đồng ý để con cho anh O nuôi. Để không làm xáo trộn môi trường sống của các con, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho anh O nuôi. Phần cấp dưỡng nuôi con phía anh O không yêu cầu nên không xem xét.

Chị Q có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản: Đương sự không có yêu cầu về phần tài sản nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Anh Nguyễn Thành O và chị Sơn Thị Q thuận tình ly hôn trước khi mở phiên toà nên anh O và chị Q mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) = 75.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí anh O đã nộp được khấu trừ.

[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Thành O và chị Sơn Thị Q.

Về con chung: Anh Nguyễn Thành O nuôi con tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 13/12/2021 đang ở với anh O, không đặt ra việc cấp dưỡng.

Chị Q có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh O.

Vì lợi ích của con chưa thành niên nên chị Q có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và anh O có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) anh Nguyễn Thành O và chị Sơn Thị Q mỗi người phải chịu 75.000 đồng. Anh O đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004778 ngày 01/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ, phần còn thừa anh O được nhận lại.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • huyện Trần Văn Thời;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời,
  • tỉnh Cà Mau (Cơ quan thực hiện đăng ký kết hôn);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 267/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 267/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mâu thuẫn dẫn đến ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger