Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 267/2024/HS-ST

Ngày: 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lục Thanh Thủy

2. Bà Phạm Thị Hồng Nhung

3. Ông Lê Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Văn T, sinh năm 1999.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn B và bà Lê Thị Hồng T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 10/11/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa;

D chỉ bản số [...] lập ngày 10/11/2023 tại Công an huyện B, thành phố Hà Nội.

* Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn T: Ông Trần Khắc T2, Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt tại phiên tòa;

* Bị hại: Ông Ngô Văn Q, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa;

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Ngô Văn D1, sinh năm 1955; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa;

- Ông Ngô Văn H, sinh năm 1972 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1974; cùng trú tại: Thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội; ông H vắng mặt, bà H1 có mặt tại phiên tòa;

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Đàm Thị H2, sinh năm 1992, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H – Chi nhánh T3 pháp lý số 10; có mặt tại phiên tòa;

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Ngô Văn B, sinh năm 1981 và bà Lê Thị Hồng T1, sinh năm 1980; cùng trú tại: Thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Hồng H3, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Ngô Văn Q (sinh năm 1970) bị mắc bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng F20.5, được vợ chồng em trai ruột là ông Ngô Văn H (sinh năm 1972) và bà Lê Thị H1 (sinh năm 1974) cùng trú tại thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội nuôi dưỡng. Do bị bệnh tâm thần nên đã có lần ông Q vô cớ gây sự, chửi Ngô Văn T (sinh năm 1999; trú tại thôn K, xã C, huyện B), là người có quan hệ họ hàng với ông Q. Do bực tức nên khoảng 09 giờ ngày 02/5/2023, T đến nhà ông H và bà H1 để tìm đánh ông Q. Khi đến nơi, T nhìn thấy bà H1 ngồi ở dưới sân, còn ông Q đang ngồi ở thềm nhà. T tiến đến chỗ ông Q ngồi, dùng tay trái đấm và tát 02 cái vào mặt ông Q. Khi bị T đánh, ông Q ngồi xuống dưới sân nhà thì T tiếp tục dùng chân phải đá, đạp khoảng 05 - 06 phát trúng vào vùng mặt, ngực và người của ông Q. Vừa đánh ông Q, T vừa chửi: “Đ.mẹ mày”. Thấy vậy, bà H1 nói: “Này này, nó có biết gì mà đánh nó như thế mày” nhưng T vẫn dùng tay túm cổ áo phía sau của ông Q, kéo lê ông Q ra ngoài cổng nhà bà H1. Tại

đây, T nhặt 01 viên gạch màu đỏ kích thước (20x10x05)cm ở trụ cổng phía bên trái nhà bà H1, dùng tay trái cầm gạch đập khoảng 03 - 04 phát theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới trúng vào vùng đầu bên phải của ông Q, làm viên gạch vỡ đôi và ông Q bị chảy máu đầu. Bà H1 thấy T đánh ông Q nên hô hoán để người dân xung quanh đến can ngăn. T không đánh ông Q nữa, vứt viên gạch xuống nền cổng nhà bà H1 rồi bỏ đi. Ông Q được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q1, sau đó chuyển Bệnh viện Q2 điều trị từ ngày 02/5/2023 đến ngày 11/5/2023 thì được ra viện.

Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành lập biên bản dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra; thu giữ vật chứng và trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của ông Ngô Văn Q. Kết quả như sau:

Tại biên bản dựng lại hiện trường hồi 08 giờ 30 phút ngày 13/7/2023 tại nhà bà Lê Thị H1 ở thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội, thể hiện:

“……. Vị trí số 1 là vị trí T đi vào sân, đứng đối diện với ông Q đang ngồi trên thềm nhà. Khoảng cách giữa anh T và ông Q là 0,66m. Vị trí ông Q ngồi tại thềm nhà cách mép cửa chính bên phải hướng từ cổng vào 1,62m cách cột trụ nhà bên phải hướng từ cổng vào là 1,57m. Tại vị trí này T dùng tay trái đấm và tát vào mặt ông Q 02 cái theo chiều từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.

- Vị trí số 2 là vị trí T kéo ông Q xuống sân. Lúc này, T trong tư thế đứng đối diện với ông Q, cách vị trí số 1 là 1,55m; ông Q ngồi bệt dưới sân cách cột trụ nhà bên phải theo hướng từ cổng vào 1,45m, khoảng cách giữa anh T và ông Q là 0,9m. Tại vị trí này, T co chân phải đạp và đá xuống liên tiếp 05, 06 cái trúng mặt, vùng đầu và người ông Q. Sau khi đá ông Q, T đã dùng tay trái túm cổ áo phía sau và kéo lê mạnh ông Q ra trước trụ cổng bên phải hướng từ ngoài vào nhà.

- Vị trí số 3 là vị trí T phát hiện và nhặt một viên gạch nung màu đỏ loại gạch 02 lỗ trước trụ cổng bên trái theo hướng từ ngoài cổng vào nhà. Vị trí anh T nhặt gạch cách tâm trụ cổng trái 0,4m, cách tâm cổng 0,6m.

- Vị trí số 4 là vị trí T đứng trước trụ cổng bên phải hướng từ ngoài vào cách tâm trụ cổng bên phải 01m. Ông Q ngồi bệt dưới mặt cổng bê tông cách tâm trụ cổng phải là 0,6m. Tại vị trí này T cầm gạch vừa nhặt ở vị trí số 3, dùng tay trái cầm gạch đánh liên tiếp theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải trúng vào vùng thái dương bên trái ông Q và khiến ông Q chảy máu”...

Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thu giữ vật chứng do bà Lê Thị H1 giao nộp: 02 viên gạch chỉ màu đỏ kích thước (10x10x05)cm, một đầu bằng, đầu còn lại có vát chéo.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1893/KLTTCT-TTPY ngày 27/12/2023 của Trung tâm P - Sở Y tế thành phố H về thương tích của ông Ngô Văn Q, như sau:

“... - Cắt lớp vi tính sọ não ngày 09/5/2023: Hình ảnh dập não chảy máu thái dương phải, vỡ xương thái dương phải.

1.1. Sẹo vết thương vùng thái dương phải: 02%

1.2. Ổ tổn thương nhu mô não thái dương phải: 05%

2. Kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm thương tích cơ thể của ông Ngô Văn Q tại thời điểm giám định là 07%.

2.2. Kết luận khác:

- Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của ông Ngô Văn Q do vật tày, tày có cạnh gây ra.

- Người nhà ông Ngô Văn Q từ chối chụp X Quang, cắt lớp vi tính sọ não của ông Q nên không đánh giá được mức độ di chứng của các tổn thương sọ não."

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, gia đình Ngô Văn T đã bồi thường cho ông Ngô Văn Q 60.000.000 đồng. Ông Q đã nhận tiền bồi thường và gia đình ông Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Cáo trạng số 118/CT-VKSHN-P2 ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Ngô Văn T thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất. Ngoài ra, bị cáo đã tích cực tác động gia đình để bồi thường số tiền 60.000.000 đồng cho gia đình ông Ngô Văn Q.

Bị hại ông Ngô Văn Q khai bị Ngô Văn T gây thương tích đúng theo nội dung cáo trạng, ông đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và không đề nghị bị cáo tiếp tục bồi thường cho ông.

Đại diện hợp pháp của bị hại khai ông Ngô Văn Q bị Ngô Văn T dùng tay, chân đấm đá và dùng gạch đập, gây thương tích đúng theo nội dung cáo trạng. Ông Ngô Văn D1 và bà Lê Thị H1 xác nhận đã được nhận tiền đền bù, khắc phục hậu quả từ gia đình bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ngô Văn T. Ngoài ra, ông D1, bà H1 không yêu cầu bị cáo T phải tiếp tục bồi thường dân sự cho gia đình ông Q.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Ngô Văn B và bà Lê Thị Hồng T1 trình bày, sau khi sự việc xảy ra, ông, bà đã tự nguyện thay mặt bị cáo Ngô Văn T xin lỗi, thăm hỏi và bồi thường tổng số tiền 60.000.000 đồng cho gia đình ông Ngô Văn Q. Nay ông, bà không yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả cho ông, bà số tiền này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 10 đến 11 năm tù về tội “Giết người”;

Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự, ông Ngô Văn D1, ông Ngô Văn Q, ông Ngô Văn H, bà Lê Thị H1, ông Ngô Văn B và bà Lê Thị Hồng T1 không có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo Ngô Văn T nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy: 02 viên gạch chỉ màu đỏ, diện tích 10x10x5cm, một đầu bằng, đầu còn lại vát chéo, đã qua sử dụng.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn T nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về tội danh đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa,

bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; bị cáo lúc còn nhỏ bị sinh non nên sức khỏe hạn chế, chỉ học hết lớp 4; bị cáo có quan hệ họ hàng đối với bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ra cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về tội danh đối với bị cáo Ngô Văn T. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Ngô Văn H và người làm chứng ông Nguyễn Hồng H3 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy ông H vắng mặt nhưng đã có ông D1 và bà H1 đại diện cho bị hại tại phiên tòa, ông H3 đã có lời khai trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của ông H và ông H3 không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai

của bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngô Văn T có quan hệ họ hàng và ở cùng thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội với ông Ngô Văn Q, là người bị mắc bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng F20.5, được gia đình ông Ngô Văn H và bà Lê Thị H1 nuôi dưỡng. Do bực tức vì có lần Ngô Văn T bị ông Q vô cớ chửi nên khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/5/2023, T đi sang nhà bà H1 tìm đánh ông Q. Khi nhìn thấy ông Q đang ngồi trên thềm nhà, T tiến đến chỗ ông Q dùng tay đấm, tát vào mặt ông Q. Khi thấy ông Q ngồi xuống dưới sân, T tiếp tục dùng chân đá, đạp nhiều cái vào mặt, ngực và người ông Q, rồi dùng tay túm cổ áo của ông Q, kéo lê ra ngoài cổng nhà bà H1. Tại đây, T dùng tay phải nhặt 01 viên gạch màu đỏ kích thước (20x10x05)cm, cầm đập 03 - 04 phát vào đầu ông Q làm ông Q bị dập não chảy máu thái dương phải, vỡ xương thái dương phải. Do được đưa đi cấp cứu và điều trị kịp thời nên ông Q không tử vong, nhưng bị tổn hại 07% sức khỏe.

Hành vi của bị cáo Ngô Văn T đã cấu thành tội “Giết người” với tình tiết “Có tính chất côn đồ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Do đó, có đủ cơ sở để xác định Cáo trạng số 118/CT-VKSHN-P2 ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo Ngô Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Văn T là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Bị cáo Ngô Văn T phải nhận thức rõ được việc dùng gạch là hung khí nguy hiểm để đập vào đầu là vị trí trọng yếu trên cơ thể của ông Ngô Văn Q có thể gây chết người nhưng bị cáo Ngô Văn T vẫn cố ý thực hiện; việc bị hại

không chết là ngoài ý muốn của bị cáo nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”.

Về nhân thân, bị cáo Ngô Văn T chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội đối với ông Ngô Văn Q là người có bệnh về tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã tích cực tác động gia đình để gia đình thay mặt bị cáo xin lỗi, thăm hỏi và bồi thường cho ông Ngô Văn Q; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo (Bút lục 146) và tại phiên tòa tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra, Cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu thể hiện bản thân bị cáo lúc còn nhỏ bị sinh non, thường đau yếu, bệnh tật, tâm lý không ổn định (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, thành phố Hà Nội, Bút lục 131) nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Ngô Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Ngô Văn T.

[6]Bị cáo Ngô Văn T được trừ thời gian đã bị tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày bị tạm giam được tính trừ một ngày tù.

[7]Về trách nhiệm dân sự:

Ông Ngô Văn Q, ông Ngô Văn D1, ông Ngô Văn H, bà Lê Thị H1, ông Ngô Văn B và bà Lê Thị Hồng T1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo Ngô Văn T, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Văn T, xét vật chứng là tài sản không còn giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đáng kể, cần tịch thu, tiêu hủy, bao gồm: 02 viên gạch chỉ màu đỏ, diện tích 10x10x5cm, một đầu bằng, đầu còn lại vát chéo, đã qua sử dụng.

[9]Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Ngô Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 10/11/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Ngô Văn T.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ông Ngô Văn Q, ông Ngô Văn D1, ông Ngô Văn H, bà Lê Thị H1, ông Ngô Văn B và bà Lê Thị Hồng T1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 02 viên gạch chỉ màu đỏ, diện tích (10x10x5)cm, một đầu bằng, đầu còn lại vát chéo, đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản Về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội ngày 08 tháng 4 năm 2024)

4. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí

Tòa án, bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Ngô Văn T, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 21/5/2024.

Ông Ngô Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 267/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về giết người (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 267/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn T có quan hệ họ hàng và ở cùng thôn K, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội với ông Ngô Văn Q, là người bị mắc bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng F20.5, được gia đình ông Ngô Văn H và bà Lê Thị H1 nuôi dưỡng. Do bực tức vì có lần Ngô Văn T bị ông Q vô cớ chửi nên khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/5/2023, T đi sang nhà bà H1 tìm đánh ông Q. Khi nhìn thấy ông Q đang ngồi trên thềm nhà, T tiến đến chỗ ông Q dùng tay đấm, tát vào mặt ông Q. Khi thấy ông Q ngồi xuống dưới sân, T tiếp tục dùng chân đá, đạp nhiều cái vào mặt, ngực và người ông Q, rồi dùng tay túm cổ áo của ông Q, kéo lê ra ngoài cổng nhà bà H1. Tại đây, T dùng tay phải nhặt 01 viên gạch màu đỏ kích thước (20x10x05)cm, cầm đập 03 - 04 phát vào đầu ông Q làm ông Q bị dập não chảy máu thái dương phải, vỡ xương thái dương phải. Do được đưa đi cấp cứu và điều trị kịp thời nên ông Q không tử vong, nhưng bị tổn hại 07% sức khỏe.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger