TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 267/2024/HS-ST Ngày 27-9-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Tuất
Ông Từ Đức Bình
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Lê Trọng Đại- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 259/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Ngọc Đ (tên gọi khác: C),
sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn S, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1956; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/02/2024, bị Công an xã H- huyện T- tỉnh Đồng Nai Quyết định xử phạt hành chính số 01/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Nhân thân: Ngày 27/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 169/2012/HSST (chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2015). Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 30/4/2024, Công an xã H kiểm tra hành chính căn nhà không số tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai do Lê Ngọc Đ làm chủ, phát hiện Lê Ngọc Đ cùng Nguyễn Văn H (sinh năm 1987), Lê Quý V (sinh năm 1990), Võ Trọng T1 (sinh năm 2000) vừa sử dụng ma túy xong nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước 1,5cm x 02cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 nỏ thủy tinh bị bể phễu, có bám dính chất màu trắng đục trên thành; 01 khẩu súng màu đen, bên trên thân súng có ghi chữ SMITH&WESSON, ký hiệu XYL221007801, ZP-5 và 12 viên đạn (đầu đạn màu đen xám bằng kim loại, vỏ đạn màu và đồng bằng kim loại); 01 loa Bluetooth màu vàng đồng có ghi dòng chữ SDRD, 01 nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ và 01 ống hút nhựa; 01 con dao tự chế dài 70cm (cán gỗ dài khoảng 30cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng có chiều dài khoảng 40cm), 01 con dao tự chế dài khoảng 1,2 mét (lưỡi làm bằng kim loại màu đen dài khoảng 37cm, cán làm bằng tre dài khoảng 83cm), 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 túi đeo màu đen, 01 hộp nhựa và 01 điện thoại di động hiệu Nokia Model TA-1139, không gắn sim; 01 điện thoại di động hiệu S1, gắn sim số 0902405145 và 01 xe mô tô biển số 60B8-280.39; 01 xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 60H1-535.57. Công an xã H đã lập hồ sơ và chuyển giao các đối tượng cùng toàn bộ vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T điều tra, thụ lý theo thẩm quyền. (Bút lục số: 01-08).
Quá trình điều tra xác định. Khoảng 08 giờ ngày 23/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Ngọc Đ đón xe ô tô khách đi từ xã H, huyện T đến khu vực ngã tư H, Thành phố Hồ Chí Minh gặp và mua 01 gói ma túy đá với giá 700.000 đồng của một người phụ nữa (không rõ nhân thân, lai lịch). Mua được ma túy, Đ đón xe ô tô khách về nhà ở ấp H, xã H, huyện T, rồi mang ma túy mới mua vào phòng ngủ để trên bàn gỗ và lấy chai bằng nhựa đậy lên gói ma túy để không ai thấy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Từ ngày 23/3/2024 đến ngày 29/4/2024, Đ đã lấy ma túy trong gói nylon ra ngồi sử dụng một mình trong phòng ngủ được 10 lần, ma túy còn lại trong gói nylon Đ để trên bàn gỗ và lấy chai nhựa đậy lên. Khoảng 22 giờ ngày 29/4/2024, Đ đang ở nhà thì H, V và T2 đến nhà và đi vào phòng Đ ngồi chơi. Cả nhóm ngồi chơi nói chuyện, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở góc phòng ngủ ra, (bộ dụng cụ sử dụng ma túy là của Đ bên trong nỏ thủy tinh vẫn còn ma túy Đ chưa sử dụng hết) rồi ngồi cùng sử dụng ma túy với H, V và T2. Lúc này, Đ là người sử dụng ma túy đầu tiên, rồi lần lượt đến Trọng, H, còn V là người sử dụng ma túy cuối cùng. Sử dụng ma túy xong cả nhóm ngồi nói chuyện đến khoảng 02 giờ ngày 30/4/2024 thì lực lượng Công an xã H đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Đối với 01 khẩu súng và 12 viên đạn Công an thu giữ Đ khai nhận mua của 01 đối tượng nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) vào khoảng tháng 02/2024 nhằm mục đích để phòng thân.
Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của Lê Ngọc Đ.
*/ Tại Bản kết luận giám định số 892/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- “- Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ tại bàn gỗ trong phòng ngủ của Lê Ngọc Đ được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2781gam loại Methamphetamine.
- - Mẫu chất màu trắng đục bám dính trong 01 nỏ thủy tinh bị bể được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng”. (Bút lục số: 31).
*/ Tại Bản kết luận giám định số 2813/KLKTHS ngày 17/5/2024 của V2 - Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- “- Khẩu súng ổ quay gửi giám định là súng chế tạo thủ công nòng nhẫn sử dụng để bắn với loại đạn cỡ (5,6x1,5)mm. Hiện tại, súng bắn được đạn nổ. Khẩu súng trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
- - 12 viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, không phải vũ khí quân dụng và sử dụng để bắn được cho khẩu súng ổ quay trên.”
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để điều tra.
Quá trình điều tra bị can Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa Lê Ngọc Đ khai nhận hành vi phạm tội như cáo trang truy tố là đúng sự thật. Lê Ngọc Đ trình bày, bản thân là người sử dụng ma túy nên Đ đón xe lên thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy mang về nhà cất trong phòng ngủ để sử dụng dần. Ngày 29/4/2024, Đ đang ở nhà thì H, V và T2 đến nhà và đi vào phòng Đ ngồi chơi nói chuyện, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở góc phòng ngủ ra bên trong nỏ thủy tinh vẫn còn ma túy Đ chưa sử dụng hết, rồi ngồi cùng sử dụng ma túy với H, V và T2. Sử dụng ma túy xong cả nhóm ngồi nói chuyện đến khoảng 02 giờ ngày 30/4/2024 thì lực lượng Công an xã H đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 258/CT/VKS-TB, ngày 09 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Lê Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 tội từ 08 năm đến 09 năm tù.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Đề nghị tiêu hủy đối với 01 phong bì niêm phong sau giám định số 892/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ; 01
nắp nhựa đục 02 lỗ và 01 ống hút nhựa, 01 cây kéo bằng kim loại; 01 con dao tự chế dài khoảng 70cm và 01 con dao tự chế dài khoảng 1,2 mét. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Nokia Model TA-1139. Đối với 01 (một) loa Bluetooth màu vàng đồng có ghi dòng chữ SDRD, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Lê Ngọc Đ, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho Đ (Bút lục số: 256). Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, gắn sim số 0902405145, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Lê Quý V, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho V. Đối 01 khẩu súng, 12 viên đạn, 01 túi đeo màu đen và 01 hộp nhựa Cơ quan điều tra Công an huyện T chuyển cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ thể thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, gắn biển số 60H1-535.57 (đã qua sử dụng); kết quả tra cứu biển số xe do chị Võ Thị Kiều D, sinh năm 2001, trú tại: ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai mua vào năm 2022 do không liên quan đến vụ án nêu trên, Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô biên số 60H1-535.57 cho chị D. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria màu trắng đen, gắn biển số 60B8-380.39 (đã qua sử dụng), kết quả tra cứu biển số xe xác định là của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen do anh Trần Đình H1, sinh năm 1987, địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Qua xác minh anh H1 không đăng ký thường trú và không sinh sống tại xã H, huyện T nên chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan điều tra tách xe mô tô trên ra, tiếp tục xác minh xử lý theo quy định.
Đối với Lê Quý V, Võ Tuấn T2, Nguyễn Văn H không biết việc Lê Ngọc Đ cất dấu ma túy tại phòng ngủ của Đ và không góp tiền mua ma túy, cả ba được Đ cho ma túy sử dụng miễn phí nên không có căn cứ để xử lý. Tuy nhiên, các đối tượng có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã vi phạm vào khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Ngày 08/7/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tách hành vi và chuyển cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc Đ thửa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dụng bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Vào đêm 29/4/2024 rạng sáng ngày 30/4/2024 tại nhà Lê Ngọc Đ ở ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê Ngọc Đ có hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, bộ dụng vụ sử dụng ma túy để Lê Ngọc Đ cùng với Lê Quang V1, Võ Tuấn T2 và Nguyễn Văn H sử dụng trái phép chất ma túy với nhau. Ngoài ra, Lê Ngọc Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,2781gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Lê Ngọc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015 với tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”.
[2.2] Xét về tính chất, mức độ thực hiện hành vi và của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm khách thể về ma túy là loại độc dược gây nghiện nên nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy, song bị cáo vẫn cố ý vi phạm.
[2.3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu vì đã bị Tòa án kết án 01 lần và đang có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.4] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia Model TA-1139 của bị cáo Đ.
Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 892/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 nắp nhựa đục 02 lỗ và 01 ống hút nhựa, 01 cây kéo bằng kim loại; 01 con dao tự chế dài khoảng 70cm và 01 con dao tự chế dài khoảng 1,2 mét.
[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Đ 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 (hai) tội cho bị cáo Lê Ngọc Đ là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 điều 106 Bộ tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia Model TA-1139.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định vụ số 892/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 nắp nhựa đục 02 lỗ và 01 ống hút nhựa, 01 cây kéo bằng kim loại; 01 con dao tự chế dài khoảng 70cm và 01 con dao tự chế dài khoảng 1,2 mét.
(Vật chứng hiện đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Ngọc Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Hữu Phúc |
Bản án số 267/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 267/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Ngọc Đức về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
