Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 267/2023/HS - ST

Ngày 18-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa:

Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông ĐàoXuân Đạt- Kiểm sát viên

Ngày 18/12/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 280/2023/TLST - HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 14/01/1979 tại S, Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn X, xã X, huyện S, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); Vợ: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 15/12/2011, bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999 (Bản án hình sự phúc thẩm số 173/2011/HSPT). Bị can đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định của bản án. (Hiện đã được xóa án tích). Ngày 27/12/2012, bị TAND huyện Gia Lâm xử phạt 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 (Bản án hình sự sơ thẩm số 221/HSST). Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của bản án hình sự phúc thẩm số 173/2011/HSPT ngày 15/12/2011 của TAND thành phố Hà Nội là 12 tháng tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 54 tháng tù. Bị can đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định của bản án. (Hiện đã được xóa án tích). Ngày 03/10/2000, bị UBND thành phố H áp dụng biện pháp giáo dục đưa vào cơ sở giáo dục (QĐ số 856/QĐ-UB). Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/9/2023 đến ngày 26/9/2023; tạm giam từ ngày 26/9/2023 cho đến nay: Không; Có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Thùy D, sinh năm 1996; Cư trú: Số A, ngõ A, phường N, quận B, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/9/2023, chị Lê Thị Thùy D (sinh năm 1996, trú tại số nhà A, ngõ A, phường N, quận B, Hà Nội) bị trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH 125, màu đen, biển kiểm soát 21B1-706.81 tại phường N, Quận B, Hà Nội. Chị D đã trình báo Cơ quan Công an quận B về việc bị mất xe máy. Công an quận B phối hợp với Công an huyện S xác định được vị trí của chiếc xe tại nhà của Nguyễn Ngọc T (sinh năm 1979, trú tại thôn X, xã X, huyện S, Hà Nội).

Cơ quan CSĐT – Công an huyện S đã tiến hành điều tra xác định được như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 15/9/2023, Nguyễn Hữu H (sinh năm 2000, trú tại thôn X, xã X, huyện S, Hà Nội) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen (không đeo BKS) đến nhà Nguyễn Ngọc T gửi nhờ xe máy, T đồng ý. Sáng ngày 16/9/2023, T quan sát thấy chiếc xe mà H gửi bị bung phần đế để chân, cốp mở, biển kiểm soát để trong cốp xe nên T biết đây là tài sản do trộm cắp được mà có. Khoảng 12 giờ, H liên hệ cho T, nói đến chiều sẽ có người tên C đến lấy xe và hứa hẹn sẽ trả tiền công cho T số tiền 500.000 đồng nhưng T yêu cầu H phải tự đến lấy do không biết C là ai. Chiều ngày 16/9/2023, có nhân viên điện lực đến nhà T thu tiền điện, T nghĩ là lực lượng Công an đến kiểm tra nên không ra mở cửa nhằm tránh bị phát hiện chiếc xe trộm cắp. Tối cùng ngày, T không thấy H đến lấy xe nên T đã nhắn tin qua Z cho H bảo H đến lấy xe máy nhưng H chưa đến lấy chiếc xe. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra nơi ở của Nguyễn Ngọc T thu giữ chiếc xe nhãn hiệu Honda SH 125 nói trên.

Tại bản kết luận giám định số 7238/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của Phòng K – Công an thành phố H kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH đeo biển kiểm soát 21B1-706.81, có số khung, số máy nguyên thủy.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 303/KL-HĐ ngày 25/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH mang biển kiểm soát 21B1-706.81 tại thời điểm bị trộm cắp ngày 15/9/2023 có giá trị là 59.333.000₫.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen, lắp sim số 0375.921.226 và 01 điện thoại nhãn hiệu Realme C20 màu đen, lắp sim số 0972.793.691.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH và 01 biển kiểm soát 21B1-706.81: Ngày 14/11/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện S đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT – Công an quận B để phục vụ điều tra vụ án Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 15/9/2023 tại phường N, quận B, Hà Nội theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Thùy D không yêu cầu Nguyễn Ngọc T phải bồi thường gì về dân sự.

Đối với Nguyễn Hữu H: Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập nhưng H không chấp hành, không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của T thì không có tài liệu nào khác thể hiện H có liên quan đến vụ án nên chưa có căn cư để xử lý H trong vụ án này. Cơ quan CSĐT – Công an huyện S đã chuyển toàn bộ tài liệu liên quan đến H và tang vật đến Cơ quan CSĐT – Công an quận B để giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 268/CT -VKSÐA ngày 27/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Nguyễn Ngọc T về tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Ngọc T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về dân sự: Không xem xét giải quyết.

- Về vật chứng: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen và 01 điện thoại nhãn hiệu Realme C20 màu đen. Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0375.921.226 và 01 sim số 0972.793.691 thu của bị cáo.

* Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện S; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với sự vắng mặt của chị D tại phiên tòa hôm nay. Xét quá trình điều tra, chị D đã có lời khai đầy đủ có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của chị D không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án. Do đo, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt chị D.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Ngọc T tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 16/9/2023, tại thôn X, xã X, huyện S, Hà Nội, Nguyễn Ngọc T có hành vi Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, cụ thể là 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH 125 (đăng ký biển kiểm soát 21B1-706.81 trị giá 59.333.000đ) của chị Lê Thị Thùy D bị trộm cắp vào ngày 15/9/2023 tại phường N, quận B, Hà Nội là tang vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản theo quyết định khởi tố vụ án hình sự số 385/QĐ – CABĐ ngày 14/11/2023 của Cơ quan CSĐT – Công an quận B, TP Hà Nội. Do đó, hành vi của Nguyễn Ngọc T đã phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Điều 323 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[4.2].Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến, bản thân bị cáo đang bị bệnh viêm gan nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của bị cáo thể hiện bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51BLHS, tài sản đã được thu hồi nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về phần bồi thường dân sự: Chị D không có yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen và 01 điện thoại nhãn hiệu Realme C20 màu đen. Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0375.921.226 và 01 sim số 0972.793.691 thu của bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • - Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  1. Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2023.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về phần dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về vật chứng: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen và 01 điện thoại nhãn hiệu Realme C20 màu đen. Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0375.921.226 và 01 sim số 0972.793.691 thu của bị cáo.

Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/12/2023 giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.

  1. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  2. Án xử công khai sơ thẩm; Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan THA huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 267/2023/HS - ST ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 267/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 16/9/2023, tại thôn X, xã X1, huyện S, Hà Nội, Nguyễn Ngọc T có hành vi Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, cụ thể là 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH 125 (đăng ký biển kiểm soát 21B1-706.81 trị giá 59.333.000đ) của chị Lê Thị Thùy D bị trộm cắp vào ngày 15/9/2023 tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội là tang vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản theo quyết định khởi tố vụ án hình sự số 385/QĐ – CABĐ ngày 14/11/2023 của Cơ quan CSĐT – Công an quận Ba Đình, TP Hà Nội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger