|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 267/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07-5-2024 Về tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Quỳnh
- Ông Huỳnh Công Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 593/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QÐST-HNGĐ ngày 17/4/2024, giữa các đương sự;
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu D, sinh năm 1966 (Có mặt)
Địa chỉ: 258/72 Dương Bá Trạc, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
Tạm trú: 277 Bis Âu Dương Lân, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1965 (Có mặt)
Địa chỉ: 1 T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thu D trình bày:
Bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2002, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 257/KHTH, quyển số 02/2002 do Ủy ban nhân dân Phường B, Quận H cấp ngày 27/12/2002).
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2007 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, cả hai không có tiếng nói chung, ông P không quan tâm vợ, không còn tình cảm, cuộc sống hôn
nhân không hạnh phúc. Ông bà đã nhiều lần thảo luận trao đổi, hàn gắn, khắc phục nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cả hai đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.
Nay bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn P.
- Về con chung: Bà xác định bà và ông P có 01 con chung họ tên là Huỳnh Ngọc T (nam), sinh ngày 27/12/2002 (đã trưởng thành).
- Về tài sản chung: Bà và ông P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà cam kết việc ly hôn của bà không nhằm trốn tránh nghĩa vụ pháp lý nào và bà chỉ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 7.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Huỳnh Văn P trình bày:
Về việc kết hôn giống như nguyên đơn trình bày. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do sau khi kết hôn được 20 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế ông khó khăn hơn vợ nên ông duy trì độc lập tài chính của mỗi người từ lúc kết hôn đến nay, bất đồng quan điểm sống, bà D thiếu sự tin tưởng. Ông và bà D đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm nhau. Nên nguyện vọng của ông là:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn và yêu cầu Tòa giải quyết đoàn tụ với bà Nguyễn Thu D. Ông chỉ đồng ý ly hôn sau khi con tốt nghiệp đại học.
- Về con chung: Ông xác định ông bà bà D có có 01 con chung họ tên là Huỳnh Ngọc T (nam), sinh ngày 27/12/2002 (đã trưởng thành).
- Về tài sản chung: Ông và bà D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn – bà Nguyễn Thu D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn – ông Huỳnh Văn P. Ông P hiện đang cư trú tại 1 T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2002 (Giấy chứng nhận kết hôn số 257/KHTH, quyển số 02/2002 do Ủy ban nhân dân Phường B, Quận H cấp ngày 27/12/2002) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[2.1] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cả hai bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến không thể cùng nhau xây dựng được cuộc sống hôn nhân thực tế và hiện cả hai đã không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, bạn bè động viên, khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả mà ngày càng trầm trọng.
Từ năm 2022 đến nay bà D và ông P sống ly thân, từ tháng 8/2023 bà D đã dọn ra ngoài sống riêng, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai người đó tự lo thì không thể là một gia đình hạnh phúc. Theo Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về xác định, áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đến nay vẫn chưa có văn bản thay thế, quy định như sau:
“Căn cứ cho ly hôn:
a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.
a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.
a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng
danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt...”
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng nguyên đơn bà D vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông P, vẫn sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Xét thấy bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P không còn yêu thương, chăm sóc quan tâm lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thu D là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu của ông Huỳnh Văn P không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thu D do con còn đi học, ông chỉ đồng ý ly hôn sau khi con tốt nghiệp đại học. Tuy nhiên, từ năm 2022 tức là từ lúc các bên sống ly thân và cho đến các lần tham gia tố tụng tại tòa ông P không đưa ra được biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nên yêu cầu của ông P không đồng ý ly hôn với bà D là không có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Căn cứ Giấy khai sinh số 31, quyển số 1/2003 đăng ký ngày 20/01/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường B1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cùng lời xác nhận của bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P đã có đủ cơ sở để kết luận: Bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P có 01 (một) con chung, họ tên là Huỳnh Ngọc T (nam), sinh ngày 27/12/2002 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thu D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thu D được ly hôn với ông Huỳnh Văn P (Giấy chứng nhận kết hôn số 257/KHTH, quyển số 02/2002 do Ủy ban nhân dân Phường B, Quận H cấp ngày 27/12/2002).
- Về con chung: Bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P có 01 con chung họ tên là Huỳnh Ngọc T (nam), sinh ngày 27/12/2002 (đã trưởng thành).
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thu D và ông Huỳnh Văn P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thu D phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0037354 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, vậy bà Nguyễn Thu D đã nộp đủ án phí.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NNguyễn Chí Hiếu |
Bản án số 267/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 267/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
