Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 267/2025/HS-PT

Ngày: 10/11/2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Gia .

Các Thẩm phán: Ông Trịnh Văn Toàn và bà Lê Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình T - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 257/2025/TLHS-PT ngày 01/10/2025, đối với bị cáo Nguyễn Thanh T1 và các bị cáo khác về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T1, Đỗ Anh K và Nguyễn Thanh T2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thanh T1 (Tên gọi khác: P), sinh ngày 13/11/2006, tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); Nơi cư trú: khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn C, xã T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông Nguyễn Thanh T3 (chết) và bà Lê Thị Đông H, sinh năm 1978; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Đỗ Anh K, sinh ngày 03/10/2006, tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã Ô, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Con ông Đỗ Thành L, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/11/1996, tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); Nơi cư trú: khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn C, xã T, tỉnh Đắk Lắk); giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Con ông Nguyễn Thanh T3 (chết) và bà Lê Thị Đông H, sinh năm 1978; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 01/4/2014 bị TAND tỉnh Phú Yên (cũ) xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Theo Bản án số 33/2014/HSPT ngày 01/4/2014). Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thanh T1: Bà Lê Thị Đông H, sinh năm 1978; Trú tại: khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn C, xã T, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Anh K: Ông Đỗ Thành L, sinh năm 1978; bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã Ô, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thanh T1, Đỗ Anh K theo diện trợ giúp pháp lý: Bà Trần Thị Như T5 - Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (nay là Trung tâm T7, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/12/2023 nhóm thanh niên gồm: Nguyễn Thanh T1, Đỗ Anh K, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Phạm Thiên T6, Phan Trung S, Trần Cao L1, Đào Huỳnh Đăng Q và Trần Ngọc B cùng nhau hát karaoke tại quán “Bảo Hân” thuộc khu phố L, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn L, xã T, tỉnh Đắk Lắk) thì L1 thấy nhóm thanh niên gồm Trần Văn H2, Văn Đình H3 và Phạm Văn C cũng đang ở quán nên L1 nhờ T1 đến nói chuyện với H2 về mâu thuẫn trước đó giữa L1 và H2 thì T1 đồng ý và đến gặp H2 để nói chuyện thì H3 dùng dép định đánh T1 nhưng được C can ngăn nên T1 đi vào phòng hát. Vì bực tức T1 nên H2, H3 và C thống nhất gọi T1 ra ngoài để đánh nhau. T1 cùng cả nhóm ra khu vực trước quán “Bảo H4” gặp nhóm của H2. Tại đây, 02 nhóm thách đố đánh nhau, T1 gọi điện cho Nguyễn Thanh T2 (là anh ruột của T1) nhờ T2 đem con dao mà T1 cất giấu tại nhà đến giúp T1 đánh nhóm của H2 thì T2 đồng ý. Nghe vậy, H2 và H3 cùng xông vào dùng tay đánh liên tiếp nhiều cái trúng vào vùng mặt T1, T1 dùng tay đánh lại Hay và H3. Lúc này, H1 cầm mũ bảo hiểm xông vào đánh một cái trúng vào lưng của H2, còn T6, S, L1, K và B cũng xông vào cùng với T1 dùng tay đánh nhau qua lại với H2, H3, C; riêng Q chỉ đứng xem. Tiếp đó, H3 rút thanh sắt dùng để cắm cờ trước một nhà dân giơ lên để hăm dọa, T1 cũng rút một thanh sắt giơ lên hăm dọa lại rồi Hoàng vứt bỏ thanh sắt, nhóm Hay, H3 chạy bộ về hướng đường T thuộc khu phố L, thị trấn C (nay là thôn L, xã T, tỉnh Đắk Lắk) thì lúc này T2 điều khiển xe mô tô đem theo con dao đến đưa cho T1 rồi chở T1 đuổi theo H2 và H3; C bỏ chạy về hướng bến xe để trốn. K điều khiển xe mô tô chở B; S điều khiển xe mô tô chở T6; L1 điều khiển xe mô tô một mình cùng chạy theo sau xe Tưởng điều khiển để tìm đánh Hay và H3. Riêng Q điều khiển xe mô tô chở H1 về nhà. Bị đuổi đánh nên H2 và H3 chạy trốn bên hông xe ô tô tải đang đậu tại đường nội bộ khu dân cư “Gò Méc” thuộc thôn L, xã T, tỉnh Đắk Lắk. Khi nhóm T1 đến đoạn đường T gặp Q và H1 thì nhóm T1 dừng lại. Tại đây, T2 can ngăn, bảo T1 đi về nhưng T1 vẫn tiếp tục cầm dao chạy bộ đuổi theo H2 và H3, lúc này K điều khiển xe mô tô chạy đến chở T1 tìm H2 và H3 để đánh. S và T6 về nhà, còn B, L1 và T2 đứng đợi. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày khi K và T1 nhìn thấy H3 và H2 thì K dừng xe phía sau đuôi xe ô tô tải để chặn đánh H2 và H3, còn T1 đến phía trước đầu xe để chặn đánh, thấy vậy nên H3 và H2 bỏ chạy, khi H2 bỏ chạy thì bị té ngã K và T1 chạy đến dùng tay đánh nhiều cái vào người Hay. Hay nói “Mày đánh tao thì đánh cho chết, còn không tao quay lại báo thù”. T1 dùng phần sống dao đánh liên tiếp hai cái trúng vào vùng vai trái của H2. Lúc này H2 đưa tay trái lên đỡ thì T1 tiếp tục dùng phần lưỡi dao chém trúng vào vùng cẳng tay trái gây thương tích. Sau đó T1 và K về nhà, H2 được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị thương tích.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 105/KLTTCT-PYPY ngày 23/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P (cũ) kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Trần Văn H2 tại thời điểm giám định là 14%, do vật tày + vật có cạnh sắc tác động gây ra.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T1, Đỗ Anh K, Nguyễn Thanh T2; Riêng bị cáo T1, bị cáo K áp dụng thêm Điều 91, Điều 101 BLHS; khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh T1, Đỗ Anh K, Nguyễn Thanh T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Thanh T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Hai bị cáo Đỗ Anh K và Nguyễn Thanh T2, mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cả ba bị cáo T1, T2 và K đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo T1 và K để giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo, đề nghị xử bị cáo T1 mức án 07 tháng tù, bị cáo K mức án 05 tháng tù; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T2.

Người bào chữa cho các bị cáo T1 và K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hai bị cáo T1 và K được hưởng án treo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/12/2023 tại thôn L, xã T, tỉnh Đắk Lắk, do có mâu thuẫn trước đó với Trần Văn H2 nên Trần Cao L1 đã nhờ Nguyễn Thanh T1 đến gặp Hay để nói chuyện, tại đây giữa hai nhóm T1 và H2 thách đố đánh nhau. T1 đã nhờ anh ruột là Nguyễn Thanh T2 đem con dao mà T1 cất giấu tại nhà đến giúp T1 đánh nhóm của H2 và được T2 đồng ý và đem đến cho T1, nhóm T1 và nhóm H2 rượt đuổi và dùng tay chân để đánh nhau, khi đến đoạn đường T thì hai nhóm đã dừng lại, T2 can ngăn nói T1 đi về nhưng T1 vẫn tiếp tục cầm dao chạy bộ, cùng K đi tìm Hay để đánh. T1 và K có hành vi dùng tay, chân đánh H2 và T1 trực tiếp dùng dao tự chế là hung khí nguy hiểm chém vào vùng vai trái và vùng cẳng tay trái của Hay gây thương tích tỷ lệ 14%. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo T1, K và T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo T1, K và T2. Hội đồng xét xử xét thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm chưa xét nguyên nhân vụ án có một phần lỗi của nhóm bị hại là những người gây sự trước, cụ thể: “... H3 dùng dép định đánh T1 nhưng được Cảm can ngăn ...”, “... Hay và H3 cùng xông vào dùng tay đánh liên tiếp nhiều cái trúng vào vùng mặt T1 ...”, nhưng cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ, cân nhắc và lượng hình, xử phạt bị cáo T1 09 tháng tù; xử phạt hai bị cáo K và T2, mỗi bị cáo 06 tháng tù là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo T1 là người chưa thành niên khi phạm tội nhưng là người thực hiện hành vi phạm tội với vai trò chính, là người trực tiếp gây ra hậu quả đối với bị hại, nên không thể cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo T2 là đồng phạm với bị cáo T1 với vai trò là người giúp sức, nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên cũng không thoả mãn yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo.

Đối với bị cáo K là người chưa thành niên phạm tội; là đồng phạm với vai trò là người giúp sức; gia đình có công cách mạng; hiện là sinh viên; trước khi mở phiên toà phúc thẩm, bị cáo K cung cấp chứng từ đã tự nguyện nộp khắc phục thêm hậu quả đối với bị hại và được bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như án sơ thẩm đã nhận định, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng chính sách hình sự quy định tại Điều 65 BLHS cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.

[4]. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; hai bị cáo T1 và T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Anh K – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo K; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Thanh T2 – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T1, T2.

  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
    • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 91; Điều 101 BLHS; khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên đối với hai bị cáo T1 và K; áp dụng thêm Điều 65 BLHS đối với bị cáo K.
    • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh T1 - 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
    • Xử phạt: bị cáo Đỗ Anh K - 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Đỗ Anh K cho UBND xã Ô, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo K có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Ô, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bán án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

    • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh T2 - 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Hai bị cáo Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Thanh T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Văn phòng CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng THADS khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Cao Gia

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 267/2025/HS-PT ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 267/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger