TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 267/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-12-2025. V/v: Ly hôn giữa chị Huyền và anh Dương |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Loan
Ông Bùi Như Huấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/QĐ-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H; sinh năm 1988; Số CCCD: [...]; đăng ký cư trú tại: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Ninh Bình. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Xuân D; sinh năm 1986; Số CCCD: [...]; cư trú tại: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 04-9-2025, bản tự khai ngày 30-10-2025 và trong quá trình giải quyết tại tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Xuân D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định (Nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 02-12-2010. Sau kết hôn vợ chồng sống hoà thuận được gần 03 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tỉnh tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng về quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần. Vợ chồng đã đã chấm dứt quan hệ tình cảm và sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng nên không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị và anh Phạm Xuân D có 02 con chung là các cháu Phạm Văn T, sinh ngày 13-7-2012 và cháu Phạm Minh D1, sinh ngày 26-01-2024. Từ thời điểm vợ chồng sống ly thân 02 con sinh sống cùng chị và được chị nuôi dưỡng từ đó đến nay. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nhận tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con; chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng và các vấn đề khác liên quan: Chị Trần Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Đối với bị đơn là anh Phạm Xuân D: Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập anh Phạm Xuân D đến làm việc và tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, tuy nhiên anh D không đến Toà án làm việc và cũng không có văn bản trình bày quan điểm của mình về vụ án. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải được.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 30-10-2025: Cháu Phạm Văn T có nguyện vọng được ở cùng mẹ là chị Trần Thị H.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 03-11-2025, bà Phạm Thị L là mẹ đẻ của anh Phạm Xuân D trình bày: Chị Trần Thị H và anh Phạm Xuân D đã sống ly thân, chị H và các con đã chuyển về nhà mẹ đẻ chị H sinh sống. Anh D đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án nhưng vì lý do phải đi làm nên không đến Toà án làm việc.
* Tại biên bản xác minh ngày 03-11-2025 tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Phạm Xuân D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định (Nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 02-12-2010. Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh D thường xảy ra va chạm cãi chửi nhau; nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn thì địa phương không nắm bắt được . Nay chị H có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung là Phạm Văn T, sinh ngày 13-7-2012 và cháu Phạm Minh D1, sinh ngày 26-01-2024. Hiện nay cả 02 con đang được chị H nuôi dưỡng.
Anh D vẫn sinh sống tại địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Ninh Bình.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.
- Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 “Sửa đổi, bổ sung Điều 35” của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự 2025
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Phạm Xuân D.
+ Về con chung: Giao 02 cháu Phạm Văn T, sinh ngày 13-7-2012 và cháu Phạm Minh D1, sinh ngày 26-01-2024 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng và những vấn đề khác có liên quan: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Phạm Xuân D cư trú tại: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Ninh Bình, do đó Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình đã thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 “Sửa đổi, bổ sung Điều 35” của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự 2025;
[1.2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Phạm Xuân D tự nguyện tìm hiều và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định (Nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 02-12-2010, như vậy, hôn nhân của chị H và anh D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, theo chị H khai mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần, anh chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng và sống ly thân từ tháng 8-2023 đến nay. Như vậy, trong thời gian vợ chồng chung sống chị H và anh D không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không xây dựng, gìn giữ, bảo vệ hạnh phúc gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, việc này trái với quy định tại Điều 19, 21 Luật hôn nhân gia đình.
Nay chị Trần Thị H có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn với anh Phạm Xuân D. Anh Phạm Xuân D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải mâu thuẫn vợ chồng nhưng vắng mặt không có lý do, chứng tỏ anh D không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân của chị H và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Phạm Xuân D có 02 con chung là các Phạm Văn T, sinh ngày 13-7-2012 và cháu Phạm Minh D1, sinh ngày 26-01-2024. Chị Trần Thị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả 02 con. Xét thấy anh D không đến Tòa án làm việc và không có quan điểm về con chung. Cháu Phạm Văn T đang được chị H nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi ly hôn; cháu Phạm Minh D1 được sinh ra vào thời điểm chị H và anh D đã sống ly thân. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con là Phạm Văn T, sinh ngày 13-7-2012 và cháu Phạm Minh D1, sinh ngày 26-01-2024 sau khi vợ chồng ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị H không yêu cầu anh Phạm Xuân D cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.3]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng và các vấn đề khác liên quan: Chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 28; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 “Sửa đổi, bổ sung Điều 35” của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự 2025;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H:
- Xử ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Phạm Xuân D.
- Về con chung: Giao 02 cháu Phạm Văn T, sinh ngày 13-7-2012 và cháu Phạm Minh D1, sinh ngày 26-01-2024 cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T và cháu D1 đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập được.
Anh Phạm Xuân D không phải cấp dưỡng nuôi các con chung cùng chị Trần Thị H.
Anh Phạm Xuân D có quyền, nghĩa vụ thăm non con mà không ai được cản trở, nhưng anh D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Trần Thị H.
2. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại biên lai số 0001218 ngày 06-10-2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Ninh Bình, chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H và anh Phạm Xuân D có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hải Ninh |
Bản án số 267/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 267/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
