Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 267/2024/HS-ST

Ngày: 10-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh

Thẩm phán: Ông Hoàng Bích Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Cương
  2. Ông Trần Ngọc Thực
  3. Bà Phạm Thị Hồng Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 188/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2689/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành T, sinh năm 1975 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú trước khi bị bắt: Số A Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Đ và bà Quách Thị L (chết); bị cáo có vợ tên Phạm Thị Ngọc Phương D, sinh năm 1982 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/10/2022, bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh T1, Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Bị hại:

  1. Nguyễn Hồ Thủy N, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Số B N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Số D N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: Số E L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Duy T3, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Số A T, Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Số E L, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Ông Huỳnh Quốc V, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Số H Đường số G, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Trần Thị Mỹ L1, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Số I P, phường P, T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  5. Công ty TNHH T6; trụ sở: D N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh Q; cư trú tại: số D N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Ông Nguyễn Anh T2 - Chủ hộ kinh doanh Q1; địa chỉ: Số E L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  7. Ông Nguyễn N1 - Chủ hộ kinh doanh Nguyễn N1; địa chỉ: Số F Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Minh Q mở cửa hàng kinh doanh điện thoại và đăng ký hình thức kinh doanh là Công ty TNHH T6.

Chị Nguyễn Hồ Thủy N (bạn anh Nguyễn Minh Q) thuê lại cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn N1 với đăng ký hình thức kinh doanh là hộ kinh doanh Nguyễn N1 (bảng hiệu ghi cửa hàng điện thoại Quý Thiện 2).

Anh Nguyễn Anh T2 (bạn anh Nguyễn Minh Q) mở cửa hàng kinh doanh điện thoại và đăng ký hình thức kinh doanh là hộ kinh doanh Q2 (bảng hiệu ghi cửa hàng điện thoại M), ông N1 cho bà Nguyễn Hồ Thủy N thuê lại địa điểm và giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh để kinh doanh.

Vào khoảng đầu năm 2021, Nguyễn Thành T đến mua điện thoại tại cửa hàng của anh Nguyễn Minh Q, cả hai bắt đầu quen biết và thường đi uống cà phê cùng nhau, T thường nói có quen nhiều người bên Công an. Khoảng tháng 04/2021, cửa hàng của anh Q và cửa hàng của chị N bị Công an Thành phố H kiểm tra hành chính, thu giữ 02 điện thoại di động không rõ nguồn gốc. Do lo sợ công việc kinh doanh điện thoại sẽ bị kiểm tra nên chị N nói anh Q tìm người đưa tiền cho lực lượng chức năng để không bị kiểm tra và anh Q gặp T nhờ giúp thì T đồng ý.

Đầu tháng 05/2021, bị cáo T hẹn anh Q, chị N đến quán cà phê tại T (không nhớ địa chỉ) để bàn việc. Tại quán, T thông báo việc đã liên hệ với Công an quận TCông an Thành phố H nhờ giúp không bị kiểm tra hoạt động mua bán điện thoại tại cửa hàng kinh doanh của anh Q, chị N nhưng cả hai phải đưa tiền cho T để chung chi (Q phải đưa 15.000.000 đồng/tháng và N phải đưa 30.000.000 đồng/tháng); anh Q và chị N đồng ý. Bị cáo T dặn việc liên lạc nhau chỉ qua tài khoản Telegram, phải xóa tất cả các tin nhắn sau khi gọi điện thoại và nhắn tin.

Thực hiện việc thỏa thuận, trong tháng 05/2022, N đưa tiền cho Q để Q là người gom đưa cho T (Q đưa trực tiếp 40.000.000 đồng, 5.000.000 đồng thì chuyển khoản qua tài khoản của T mở tại Ngân hàng A). Đến tháng 06/2021, tình hình dịch bệnh C ở Thành phố Hồ Chí Minh bùng phát, công việc kinh doanh gặp khó khăn nên N nói Q liên hệ gặp T để nói chuyện việc đưa hối lộ như vậy là phạm pháp. Sau đó, QN hẹn gặp T tại một quán cà phê (không rõ địa chỉ) thuộc quận T để nói chuyện. Tại đây, N nói với T về việc không muốn đưa tiền nữa vì đưa hối lộ như vậy là phạm pháp thì T nói đã nhờ rồi nếu không đưa nữa sẽ bị bắt vì vậy QN đồng ý tiếp tục đưa tiền cho T. Tuy nhiên do dịch bệnh nên tháng 6 và tháng 07/2021, QN chỉ đưa cho T 10.000.000 đồng/tháng (Q đưa tiền mặt là 15.000.000 đồng và chuyển khoản 5.000.000 đồng). Tháng 8 và 09/2021, do thực hiện giãn cách xã hội nên QN không đưa tiền cho T, nhưng T yêu cầu ứng trước mỗi tháng 5.000.000 đồng và sẽ trừ lại tiền đưa chung chi hàng tháng, vì vậy Q chuyển khoản vào tài khoản cho T 5.000.000 đồng/tháng. Đến tháng 10/2021, thành phố nới lỏng giãn cách xã hội, nên QN tiếp tục mỗi tháng đưa cho T 45.000.000 đồng. Từ tháng 04/2022 đến tháng 09/2022, QN đưa cho T mỗi tháng 35.000.000 đồng với tổng số tiền là 270.000.000 đồng (Q chuyển vào tài khoản của Ngân hàng TMCP Á, tài

khoản Ngân hàng N2 của T là 266.000.000 đồng và đưa tiền mặt 4.000.000 đồng).

Ngoài ra, trong thời gian này Q còn nhờ T giúp Nguyễn Anh T2 không bị kiểm tra hoạt động mua bán điện thoại tại cửa hàng kinh doanh của T2, T đồng ý và yêu cầu mỗi tháng T2 phải đưa cho T 30.000.000 đồng.

Từ tháng 10/2021 đến tháng 03/2022, Q, NT2 phải đưa cho T mỗi tháng 75.000.000 đồng với tổng số tiền là 450.000.000 đồng. Trong đó, Q đưa tiền mặt trực tiếp là 241.600.000 đồng, chuyển vào tài khoản cho T 208.400.000 đồng.

Từ tháng 04/2022 đến tháng 09/2022, anh T2 liên hệ và trực tiếp đưa tiền cho T mỗi tháng 35.000.000 đồng tại quán cà phê trên địa bàn Quận Aquận T với số tiền 210.000.000 đồng.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Thành T đã nhận của Nguyễn Minh Q với tổng số tiền là 195.000.000 đồng, nhận của Nguyễn Hồ Thủy N số tiền 410.000.000 đồng và Nguyễn Anh T2 số tiền 390.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo nhận là 995.000.000 đồng.

Đến tháng 10/2022, Nguyễn Anh T2 bị Công an quận G kiểm tra xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên T2, QN làm đơn tố cáo Nguyễn Thành T đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra công an Thành phố H, Nguyễn Thành T khai có nhận của anh Nguyễn Minh Q, chị Nguyễn Hồ Thủy NNguyễn Anh T2 với tổng số là 995.000.000 đồng với mục đích liên hệ với công an giúp cho anh Q, chị N và anh T2 không bị kiểm tra trong quá trình mua bán điện thoại không rõ nguồn gốc. Sau khi nhận tiền, T đã liên hệ đưa cho anh Vũ Duy T5, Đội trưởng Đ1 đặc nhiệm thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Thành phố H số tiền 300.000.000 đồng và đưa cho anh Huỳnh Quốc V, Phó Đội trưởng Đ1 đặc nhiệm thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Thành phố H số tiền 45.000.000 đồng để giúp đỡ, còn lại 650.000.000 đồng T tiêu xài cá nhân. Quá trình ghi lời khai anh Võ Duy T3, anh Huỳnh Quốc V đều trình bày không nhận bất cứ khoản tiền nào từ T để không kiểm tra việc kinh doanh mua bán điện thoại của các bị hại, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh làm rõ những lời khai của T thì không có căn cứ nào khác chứng minh cho việc T đưa tiền cho anh T3V.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, có gắn sim số 0907814019;
  • 01 (một) điện thoại di dộng N3 màu đen;
  • 01 thẻ ngân hàng số 9704053018302421;
  • 01 thẻ ngân hàng số 24820207;
  • Tiền Ngân hàng N4: 130.000.000 đồng;
  • Tiền ngoại tệ Hoa Kỳ: 500 đô la.

Tại Bản Cáo trạng số 592/CT-VKS-P2 ngày 10/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thành T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố, là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, không oan sai.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành T tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Nguyễn Thành T đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối, hứa hẹn sẽ liên hệ với Cơ quan Công an giúp cho các bị hại Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hồ Thủy N, Nguyễn Anh T2 không bị kiểm tra trong quá trình hoạt động kinh doanh điện thoại di động với số tiền bị cáo thu lợi được là 995.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Thành T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo nhiều người, nhiều lần, giá trị tài sản trong mỗi lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 2.000.000 đồng, đây là hành vi phạm tội 02 lần trở lên; trong quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Thành T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền khắc phục hậu quả, gia đình có công với cách mạng, gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Thành T mức án

từ 08 (tám) đến 09 (chín) năm tù đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T tranh luận: Thống nhất về tội danh và điều khoản như Cáo trạng truy tố. Tuy nhiên đề nghị xem xét về động cơ, mục đích, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo vì:

Nguyên nhân dẫn đến vụ án: Do có hoạt động kinh doanh không tuân thủ các quy định của pháp luật, muốn nhập khẩu hàng hoá mua vào bán ra không có hoá đơn chứng từ và bảo đảm không bị Cơ quan chức năng kiểm tra nên các bị hại đã chủ động gặp bị cáo T nhờ bị cáo giúp liên hệ đưa tiền cho cán bộ Công an để không bị kiểm tra, chính yếu tố lỗi từ phía bị hại là nguyên nhân dẫn đến vụ án để làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Mức độ phạm tội:

- Bị cáo không đặt điều kiện yêu cầu các bị hại phải đưa bao nhiêu tiền mà các bị hại tự thống nhất số tiền đưa cho bị cáo T để T giúp lo lót nhằm giúp cho việc mua bán điện thoại qua được thuận lợi, T tự đưa bao nhiêu cho đối tượng giúp, số còn lại thì T tự hưởng;

- Bị cáo T không bắt buộc các bị hại tiếp tục đưa tiền cho bị cáo theo Biên bản đối chất ngày 24/10/2022 thì bị cáo T phủ nhận nội dung nói “Đã nhờ người ta rồi nếu không đưa nữa sẽ bị bắt” khi bị hại Nguyễn Minh QNguyễn Hồ Thủy N khai đã nói với T việc đưa tiền hối lộ là phạm pháp nên không muốn đưa tiền nữa. Ngoài lời khai của các bị hại thì không thu thập được bất kỳ chứng cứ nào về nội dung tin nhắn trao đổi, hay các tài liệu điện tử ghi âm, ghi hình, lời khai người làm chứng... để chứng minh bị cáo T có hành vi buộc bị hại tiếp tục đưa tiền cho bị cáo như lời các bị hại trình bày. Do vậy, để đảm bảo tính khách quan cũng như tránh làm xấu đi tình trạng của bị cáo thì đề nghị Hội đồng xét xử không sử dụng lời khai của bị hại về nội dung nêu trên để làm căn cứ đánh giá mức độ phạm tội của bị cáo T;

- Động cơ, ý thức của bị cáo là dùng tiền của bị hại để đưa cho lực lượng chức năng đúng như thoả thuận với bị hại cho các cá nhân anh Võ Duy T3 nguyên Đội trưởng Đ1 đặc nhiệm thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Thành phố H, anh Huỳnh Quốc V, nguyên Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát hình sự đặc nhiệm thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Thành phố H để nhờ giúp đỡ “Bỏ qua không kiểm tra đối với họat động kinh doanh của Q, NT2” và được 2 người này đồng ý, T đã đưa

cho hai người hết 345.000.000 đồng. Nếu như Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có căn cứ xác định được giao dịch giao nhận tiền giữa bị cáo T và các cá nhân nêu trên thì hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội “Môi giới hối lộ” quy định tại khoản 3 Điều 365 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Nhưng do bị cáo không có chứng minh được nội dung giao dịch này, đồng thời anh Võ Duy T3, Huỳnh Quốc V không thừa nhận hành vi này, nên buộc bị cáo chịu trách nhiệm về tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt nặng hơn từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đại diện Viện kiểm sát đã nêu; đồng thời bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu phạm tội; quá trình điều tra, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T (trang 5 Kết luận điều tra); Gia đình bị cáo có thành viên tham gia hoạt động cách mạng; bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi 02 con nhỏ vị thành niên, vợ bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, bị ung thư nguyên bào nuôi giai đoạn III đã phẫu thuật năm 2022 và ung thư tuyến giáp nên đề nghị Tòa án áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị để thấy được sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

- Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của luật sư, không bổ sung.

- Kiểm sát viên đối đáp: Đối với hành vi bị cáo nói đưa tiền cho người ở cơ quan chức năng để không bị kiểm tra hoạt động kinh doanh mua bán điện thoại của các bị hại nhưng không có chứng cứ chứng minh. Bị hại dù có chủ động đưa tiền nhưng trên cơ sở là bị cáo hứa hẹn việc sẽ nhờ cơ quan chức năng không kiểm tra việc kinh doanh là đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Viện kiểm sát cũng đã cân nhắc động cơ, mục đích, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và đã đề nghị mức hình phạt thấp hơn khung hình phạt bị cáo bị truy tố.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm có thể về đoàn tụ với gia đình làm công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Tại các biên bản lấy lời khai, các bị hại đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

Từ tháng 05/2021 đến tháng 10/2022, bị cáo Nguyễn Thành T đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối, hứa hẹn sẽ liên hệ với Công an để không kiểm tra hoạt động kinh doanh điện thoại di động của các bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền mà các bị hại Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hồ Thủy N, Nguyễn Anh T2 đưa. Bị cáo đã có hành vi đưa ra thông tin gian đối không đúng sự thật chiếm đoạt các bị hại tổng số tiền là 995.000.000 đồng, bị cáo sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với nhiều bị hại với nhiều lần nhận tiền (giá trị tài sản mỗi lần chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng) để chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền đã chiếm đoạt để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bản thân; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình khi vợ bị cáo bị mắc bệnh hiểm nghèo, bị ung thư giai đoạn III, con bị cáo còn nhỏ (theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An), ông ngoại vợ bị cáo là chiến sĩ cách mạng bị bắt tù đày được Thủ tướng Chính phủ tặng Kỷ niệm chương, cậu vợ là liệt sỹ nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo nhằm thể hiện tính chất khoan hồng của pháp luật hình sự. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2025, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để nộp ngân sách nhà nước.

[5] Lập luận trên đây cũng là căn cứ của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị xử phạt và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng như quan điểm bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.

[7] Về áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tại cơ quan điều tra, các bị hại yêu cầu được nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, cụ thể: Nguyễn Minh Q yêu cầu nhận lại số tiền 195.000.000 đồng, Nguyễn Hồ Thủy N yêu cầu nhận lại số tiền 410.000.000 đồng và Nguyễn Anh T2 yêu cầu nhận lại số tiền 390.000.000 đồng. Tại giai đoạn xét xử, bị hại Nguyễn Hồ Thủy N chỉ yêu cầu nhận lại số tiền là 400.000.000 đồng. Tại phiên tòa các bị hại Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hồ Thủy N, Nguyễn Anh T2 vắng mặt. Bị cáo đồng ý trả lại số tiền này. Số tiền thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành T là 130.000.000 đồng, 500 Đô la Mỹ và gia đình bị cáo đã nộp khắc phục là 855.000.000 đồng (Giấy nộp tiền ngày 30/3/2023, ngày 12/4/2023 của Ngân hàng TMCP C1 và Giấy chứng nhận nộp tiền ngày 18/9/2023 của Ngân hàng TMCP N5). Do đó, căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xem xét sử dụng số tiền đã thu giữ và do gia đình bị cáo nộp khắc phục để khắc phục cho các bị hại theo yêu cầu theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, có gắn sim số 0907814019 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước.

- 01 (một) thẻ Ngân hàng N2 số 9704053018302421, số tài khoản 1940205268996 đứng tên chủ thẻ Nguyễn Thành T: Bị cáo sử dụng để bị hại

chuyển tiền vào nhằm chiếm đoạt; tuy nhiên bị cáo đã nộp đủ số tiền để khắc phục hậu quả cho người bị hại và không chịu trách nhiệm dân sự nào khác trong vụ án này nên trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) thẻ Ngân hàng TMCP Á số 24820207 tên chủ thẻ Nguyễn Thành T: Bị cáo sử dụng để bị hại chuyển tiền vào nhằm chiếm đoạt; tuy nhiên bị cáo đã nộp đủ số tiền để khắc phục hậu quả cho người bị hại và không chịu trách nhiệm dân sự nào khác trong vụ án này nên trả lại cho bị cáo và giải tỏa ngăn chặn giao dịch chuyển tiền đối với tài khoản số 24820207 (Bị ngăn chặn theo văn bản số 8114/PC02-Đ7 ngày 30/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và văn bản số 219/CV-BAT 23 ngày 12/10/2023 của Ngân hàng TMCP Ánhánh B, tại thời điểm ngăn chặn tài khoản số 24820207 có ghi nhận số tiền trong tài khoản).

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với các đương sự Võ Duy T3, Huỳnh Quốc V, quá trình điều tra Nguyễn Thành T khai có đưa tiền để không kiểm tra xử lý đối với hoạt động kinh doanh của cửa hàng điện thoại di động của Q, NT2. Tuy nhiên, Võ Duy T3, Huỳnh Quốc V phủ nhận lời khai của T, quá trình điều tra không có căn cứ xác định T3, V nhận tiền của T. Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ, xác minh các tình tiết trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nên Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với Võ Duy T3, Huỳnh Quốc V.

Đối với Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hồ Thủy NNguyễn Anh T2 có hành vi đưa tiền cho T để không bị kiểm tra khi kinh doanh điện thoại di động có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, trước khi bị phát hiện Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hồ Thủy NNguyễn Anh T2 đã tự đến Cơ quan Công an trình báo và tố cáo Nguyễn Thành T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xem xét xử lý hành vi này. Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ, xác minh các tình tiết trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nên Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở xem

xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hồ Thủy NNguyễn Anh T2.

Trong hồ sơ vụ án thể hiện Đơn tố giác của Nguyễn Anh T2, lời khai ban đầu của Nguyễn Thành T, lời khai ban đầu của Nguyễn Quang M thể hiện việc tháng 05/2021 Nguyễn Anh T2 bị Công an quận T tạm giữ về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” để Nguyễn Anh T2 được tại ngoại trong quá trình điều tra thì vợ của Nguyễn Anh T2Trần Thị Mỹ L1 có đưa 400.000.000 đồng cho Nguyễn Minh Q, sau đó Nguyễn Minh Q đưa cho Nguyễn Thành T 250.000.000 đồng. Nguyễn Thành T đưa cho đương sự Nguyễn Quốc T4 – Đội trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội thuộc Công an quận T 200.000.000 đồng. Sau đó Nguyễn Anh T2 được áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú. Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ, xác minh các tình tiết trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nên Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở xem xét.

[10] Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2022.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thành T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Trả lại cho Nguyễn Minh Q số tiền 195.000.000đ (một trăm chín mươi lăm triệu đồng).

- Trả lại cho Nguyễn Hồ Thủy N số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng).

- Trả lại cho Nguyễn Anh T2 số tiền 390.000.000đ (ba trăm chín mươi triệu đồng).

- Trả lại bị cáo Nguyễn Thành T:

  • 01 (một) thẻ ngân hàng số 9704053018302421 của Ngân hàng N2.
  • 01 (một) thẻ ngân hàng số 24820207 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và giải tỏa ngăn chặn giao dịch chuyển tiền đối với tài khoản số 24820207 (Bị ngăn chặn theo văn bản số 8114/PC02-Đ7 ngày 30/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và văn bản số 219/CV-BAT 23 ngày 12/10/2023 của Ngân hàng TMCP Ánhánh B, tại thời điểm ngăn chặn thẻ ngân hàng ghi nhận có tiền trong tài khoản).

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 14Pro, có gắn thẻ sim số 0907814019 (thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu tím, không có khe sim, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động N3 màu đen (...0296, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

(Vật chứng được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/340 ngày 16/5/2024 và Giấy nộp tiền ngày 30/3/2023, ngày 12/4/2023 của Ngân hàng TMCP C1 và Giấy chứng nhận nộp tiền ngày 18/9/2023 của Ngân hàng TMCP N5).

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Trại giam;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - THAHS TP.HCM;
  • - Phòng PC53 - CA TP. HCM;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Trần Cảnh

1000029 782115

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 267/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 267/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger