TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 267/2024/HS-PT
Ngày: 16 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Đức Toàn
Ông Phạm Công Mười
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 989/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Thị L do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2023/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Thị L, sinh năm 1994, tại Long An. Nơi cư trú: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con của ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1954 (chết) và bà Võ Thị L1, sinh năm 1952 (chết); có chồng tên Nguyễn O, sinh năm 1994 (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thanh Bảo D, luật sư – Đoàn luật sư thành phố H, có mặt.
- Bị hại:
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1980. Có mặt.
- Bà Mai Ngọc H, sinh năm 1989. Có mặt.
Cùng nơi cư trú: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/5/2022 Huỳnh Văn Đ cùng vợ là Mai Thị H1 vay và nhận 2.000.000.000 đồng của Ngân hàng A chi nhánh quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi đóng bảo hiểm cho Ngân hàng và các chi tiêu khác, ông Đ và bà H1 còn lại là 675.000.000 đồng đem về cất giữ trong nhà. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 30/7/2022, vợ chồng ông Đ khoá cửa nhà đi công chuyện. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Huỳnh Thị L là em ruột của ông Đ đi làm về, thấy nhà ông Đ khóa cửa, không có ai ở nhà. L biết ông Đ có tiền cất giữ trong nhà nên L nảy sinh ý định trộm tiền của vợ, chồng ông Đ. Lài đi bộ cặp hông nhà của ông Đ, nhìn vào cửa sổ thấy phòng ngủ của vợ chồng không có ai nên L đi ra sau nhà, đến cánh cửa sau, thấy tấm sắt cửa bị bung, nên L dùng tay bẻ cong tấm sắt đưa tay phải vào mở chốt khóa cửa, rồi đi vào bên trong nhà của ông Đ. L đi vào bên trong phòng ngủ của vợ chồng ông Đ, lục tìm tài sản để trộm, L lục trên tấm nệm để dưới đất thì phát hiện một ba lô màu đen, trắng để dưới tấm mền bên trong có đựng một túi vải xanh có đựng tiền. Lài thấy trong túi vải có 03 cọc tiền có mệnh giá 200.000 đồng và 01 cọc tiền có mệnh giá 500.000 đồng. Để che giấu hành vi phạm tội của mình, L nảy sinh ý định tạo hiện trường giả. L đi xuống cửa sau nhà ông Đ lấy 01 cây búa nhổ đinh (búa có cán bằng gỗ dài khoảng 30cm) cạy bung các cánh cửa tủ sắt trong những phòng ngủ nhà ông Đ. Sau đó, L ôm toàn bộ số tiền lấy trộm được đem về phòng ngủ nhà của L và mở tủ bỏ cọc tiền loại có mệnh giá 500.000 đồng vào trong túi áo khoác và giấu vào trong tủ. Còn lại 03 cọc tiền loại tiền có mệnh giá 200.000 đồng bỏ vào túi nilong màu đen và bỏ vào cốp xe mô tô biển số 62P2-269.16 của L. Sau đó, L chạy xe mô tô đến huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm chỗ chuyển tiền vào tài khoản cá nhân nhưng không chuyển được do phí cao. Lài về ngã ba M, huyện Đ, ghé vào tiệm điện thoại Duy T gặp anh Võ Duy H2, L đưa 03 cọc tiền tổng cộng là 600.000.000 đồng cho anh H2, L nhờ anh H2 chuyển vào tài khoản Ngân hàng của L. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, bà Mai Thị H1 là vợ ông Đ về nhà phát hiện cánh cửa sau nhà bị cạy phá; các ổ khoá cửa tủ trong phòng ngủ bị cạy phá; đồ đạc trong phòng ngủ bị lục soát xáo trộn; ba lô màu trắng đen bị mở dây kéo, túi vải màu xanh dương nằm bên cạnh ba lô không còn số tiền 675.000.0000 đồng nên vợ chồng ông Đ đến Công an xã M trình báo sự việc bị mất trộm tiền.
Khi lực lượng Công an đang tổ chức khám nghiệm hiện trường thì L quay về và có chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường vụ trộm tài sản tại nhà ông Đ. Đến sáng ngày 01/8/2022, L thấy vợ chồng ông Đ buồn nên L đến tiệm V tại ấp M, xã M, huyện Đ gặp anh Nguyễn Minh Q1 nhờ rút tiền 300.000.000 đồng từ trong tài khoản của L, thông qua hình thức chuyển khoản trả phí dịch vụ. L nhận được 300.000.000 đồng đều là tờ tiền với mệnh giá 100.000đ/01 tờ. Lài bỏ số tiền 300.000.000 đồng này vào túi nylon màu đen, đem về ném vào bụi cỏ sau nhà của L, với mục đích là để cho chị Huỳnh Thị N em ruột của ông Đ phát hiện túi nylon đựng tiền này và thông báo cho ông Đ. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/8/2022, chị N đi lại phía sau hàng rào nhà L thì nhìn thấy 01 túi nylon màu đen nêu trên, nằm cách cửa sau nhà L khoảng 2 mét, chị N đến kiểm tra thì phát hiện bên trong túi nylon này có nhiều tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000đ/01 tờ. Nhận định đây là tiền của ông Đ bị mất trộm nên chị N cầm túi nylon màu đen bên trong có chứa tiền mang qua nhà ông Đ. Qua kiểm tra, vợ chồng ông Đ xác định không phải là tiền của mình bị mất trộm, do cọc tiền trong túi nylon là loại tiền có mệnh giá 100.000đ/01 tờ, trong khi tiền ông Đ bị mất trộm là loại tiền có mệnh giá 200.000đ/01 tờ và 500.000đ/01 tờ. Vợ chồng ông Đ và chị N mang túi nylon chứa tiền nêu trên đến Công an xã M, huyện Đ trình báo. Qua kiểm tra, số tiền trong túi nylon là 300.000.000 đồng chị N giao nộp cho Công an phục vụ công tác điều tra làm rõ. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ mời Lài làm việc, L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội thừa nhận đã trộm tiền của vợ, chồng anh Đ và giao nộp số tiền 75.000.000 đồng còn lại đang cất giữ.
Trong quá trình điều tra xác định Huỳnh Thị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, chồng ly hôn, đang nuôi con nhỏ; có cha Huỳnh Văn Q tham gia Q2 được nhà nước tặng Kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam; L có công hỗ trợ lương thực trong phòng chống Covid 19, được Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An có thư cảm ơn.
Cơ quan điều tra thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 13, màu hồng, sim số: 0974.729.338, số I: 354 30090 9438356 của Huỳnh Thị L; 01 cái búa cán gỗ dài 30cm, đầu kim loại vuông, cạnh 2,2 cm, dài 10,2 cm, có đầu dẹp giữa có rãnh, trên đầu búa có dính sơn màu xanh và sơn màu đỏ; 01 cái ba lô vải màu đen, trắng, kích thước (0,32 x 0,42)m, có một ngăn kéo, bên trong không có gì; 01 cái túi vải màu xanh, kích thước (0,46 x0,32)m, chỉ màu trắng “ABC NGÂN HÀNG Á CHÂU”, bên trong không có gì; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION, số máy JK03E0620201, số khung: RLHJK0315MY012042, màu sơn xanh đen, biển số đăng ký 62P2 – 269.16 do Huỳnh Thị L đứng tên chủ sỡ hữu. Các vật chứng nêu trên hiện Cục thi hành án Dân sự tỉnh Long An đang quản lý.
- Tiền Việt Nam 375.000.000 đồng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 277 ngày 01/08/2023 giao trả cho bị hại Huỳnh Văn Đ cùng vợ là Mai Thị H1 số tiền 375.000.000 đồng.
- Một đĩa DVD-R maxell có chứa 03 đoạn video clip được trích ra từ camera của Huỳnh Thị L cụ thể: 01 đoạn video clip có thời lượng 00 giờ, 01 phút, 14 giây, 4,7MB; 01 đoạn video clip có thời lượng 00 giờ, 00 phút, 24 giây, 1,5 MB; 01 đoạn video clip có thời lượng 00 giờ, 01 phút, 08 giây, 4,3 MB. Tại kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Không phát hiện chỉnh sửa, cắt ghép tại 03 đoạn video clip.
Về trách nhiệm dân sự: Huỳnh Thị L đã hoàn trả cho ông Huỳnh Văn Đ và bà Mai Thị H1 675.000.000 đồng và xin rút không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2023/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Tỉnh Long An, quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị L 07 (B) năm tù, thời gian tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 07/9/2023, bị cáo Huỳnh Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, trong thời gian tại ngoại bị cáo chung sống với người khác và hiện đang mang thai. Đề nghị Tòa án xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
Bị cáo bị truy tố theo quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh khó khăn, người bị hại là anh trai bị cáo đã xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 07 năm tù là mức khởi điểm của khoản 3 Điều 173. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết người phạm tội là phụ nữ có thai (điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên mức án mà Tòa sơ thẩm áp dụng trên là phù hợp, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày:
Về tội danh và khung hình phạt bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn, ăn năn, hối cải; hoàn cảnh khó khăn đang nuôi con nhỏ; chiếm đoạt tài sản của anh trai và đã hoàn trả đầy đủ; tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết là phụ nữ có thai; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ thêm một hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Bị cáo Huỳnh Thị L bị truy tố và xét xử sơ thẩm ngày 5/9/2023. Ngày 07/9/2023 bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo cùng các tài liệu tại cấp sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm cho thấy: Ngày 30/7/2022 Bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của gia đình ông Huỳnh Văn Đ và bà Mai Ngọc H tổng số tiền 675.000.000 VND. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; đã khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại và được người bị hại xin miễn giảm trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo và người bị hại có mối quan hệ ruột thịt; bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận đã có đóng góp tích cực trong công tác phòng chống dịch covid 19; hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn chồng và đang nuôi con nhỏ hiện 5-6 tuổi. Cấp sơ thẩm đã xem xét và xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 năm tù là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội là phụ nữ có thai” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên có cơ sở để xét giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo.
- Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
- Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật, cũng như nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
- Các nội dung khác của quyết định bản án không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật để thi hành.
- Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 355, 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị L.
- Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2023/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Tỉnh Long An.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173, điểm s, b, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 16/4/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 267/2024/HS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 267/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kháng cáo xín giảm nhẹ hình phạt
