TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 267/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-8-2023 V/v “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Duy Minh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Minh Chiến;
- Ông Hồ Xuân Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1307/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1426/2023/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Xuân H, sinh năm: 1999 (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Đ, thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm: 1998 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Đ, thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, các giai đoạn tố tụng tiếp theo, nguyên đơn chị Lê Xuân H trình bày:
Trước khi cưới, chị và anh Lê Văn T tìm hiểu khoảng một năm. Cả hai tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 6 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ chồng tại xóm Đ, thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T không có nghề nghiệp ổn định, không chăm lo làm ăn mà thường nghỉ làm. Hơn nữa, anh T lại đam mê cờ bạc, chơi game online dẫn đến nợ tiền nhiều người. Vì vợ chồng mới cưới và hai con còn nhỏ nên chị cố gắng chịu đựng, chị đã trả các khoản nợ cho anh T và khuyên nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi. Kinh tế gia đình khó khăn nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra. Chị đã đưa hai con về nhà cha mẹ chị ở tại đội A, thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định từ đầu tháng 6 năm 2023 đến nay. Chị xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục sống chung với anh T được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Vợ chồng có hai người con chung gồm: Lê Huy H1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Lê Nhật Đ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021; hai người con hiện đang ở với chị. Chị yêu cầu nuôi hai người con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo các lời khai có tại hồ sơ, bị đơn anh Lê Văn T trình bày:
Trước khi cưới, anh và chị Lê Xuân H có quen nhau tìm hiểu khoảng một năm rưỡi. Cả hai tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 6 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ anh tại xóm Đ, thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, anh không có công việc và thu nhập ổn định, lại đam mê cờ bạc dẫn đến nợ tiền nhiều người nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra. Do đó chị H đã đưa hai con về nhà cha mẹ ở tại đội A, thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định từ đầu tháng 6 năm 2023 đến nay. Hiện nay cha mẹ anh cũng đã lo trả nợ cho anh, anh đã biết lỗi lầm và hiện tại anh đã bỏ cờ bạc, đồng thời anh đang đi làm thợ sơn nhà. Anh vẫn còn thương vợ và mong muốn vợ chồng đoàn tụ sống chung để nuôi dạy hai con chung nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung gồm: Lê Huy H1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Lê Nhật Đ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021; hai người con hiện đang ở với chị H. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, vì hai con chung còn nhỏ nên anh đồng ý giao hai người con chung cho chị H nuôi. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Xuân H. Giao hai người con chung gồm: Lê Huy H1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Lê Nhật Đ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung vì các đương sự không yêu cầu. Chị Lê Xuân H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Xuân H yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T có địa chỉ cư trú tại xóm Đ, thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Chị Lê Xuân H và anh Lê Văn T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 6 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Do đó, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn
nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Hạnh phúc vợ chồng chỉ được duy trì khi cả hai cùng thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Trải qua một thời gian chung sống, anh T không những không quan tâm, chăm sóc và thực hiện tốt các công việc trong gia đình mà còn tham gia cờ bạc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế và hạnh phúc trong gia đình. Mặc dù anh T đã khắc phục lỗi sai nhưng chị H vẫn cương quyết ly hôn. Xét thấy anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ chấp nhận.
[4] Vợ chồng có hai người con chung gồm: Lê Huy H1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Lê Nhật Đ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021, hiện nay hai người con đang ở với chị H. Xét thấy các con chung còn nhỏ tuổi, mọi sinh hoạt của các con chung rất cần bàn tay chăm sóc chu đáo của người mẹ. Hơn nữa, từ khi chị H và anh T không còn sống chung với nhau thì chị H vẫn đang chăm sóc các con chung. Tại phiên hòa giải, chị H và anh T thống nhất giao các con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy việc tiếp tục giao các con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu H1 và cháu Đ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Lê Xuân H phải chịu án phí 300.000 đồng.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chị Lê Xuân H được ly hôn anh Lê Văn T.
- Giao hai người con chung gồm: Lê Huy H1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Lê Nhật Đ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2021 cho chị Lê Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Văn T không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Không giải quyết về tài sản chung và nợ chung vì chị H và anh T không yêu cầu.
- Về án phí: Chị Lê Xuân H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001867 ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Duy Minh |
Bản án số 267/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 267/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Lê Xuân H và Lê Văn T