Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2668/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-6-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Thanh Giàu

2. Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến là thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Ngọc H – Kiểm sát viên

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2024HNGĐ ngày 17/01/2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2607/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 02/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3600/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Lê Thị Thanh T1, sinh năm: 1990

Hộ khẩu thường trú: A1, ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre

Cư trú: Nhà không số, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương

2. Bị đơn: ông Phan Minh H2, sinh năm 1987

Hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai

Cư trú: 941/2/8 Đường T, Tổ A, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 29/12/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh T1 trình bày:

Bà và ông Phan Minh H2 chung sống từ năm 2016 nhưng đến năm 2021 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số A, ngày 28/12/2021. Từ khi chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn nhưng đến cuối năm 2023 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân: ông H2 không lo làm ăn, đam mê cờ bạc, cá độ gây nợ nần, có những hành vi chửi bới vợ con, xúc phạm gia đình bà và gia đình bà. Nhiều lần đập phá đồ đạc trong phòng. Dù bà và gia đình hai bên đã khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng ông H2 vẫn không sửa đổi. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và các bên đã sống ly thân từ cuối năm 2023. Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông H2 nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, để ổn định cuộc sống bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn ông H2.

Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Phan Thanh H3, sinh ngày 25/01/2022 và không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có

Bị đơn ông Phan Minh H2: Dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: yêu cầu được ly hôn với ông H2; Yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung: không có.

Ông H2 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Giao con chung cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà T1 yêu cầu ly hôn ông H2 và ông H2 có địa chỉ cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

* Về thủ tục tố tụng: Bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và ông H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 và ông H2.

* Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số A, ngày 28/12/2021 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp, thì quan hệ hôn nhân giữa bà T1 và ông H2 là hợp pháp.

Bà T1 xác định từ khi chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn nhưng đến cuối năm 2023 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được do ông H2 không lo làm ăn, đam mê cờ bạc, cá độ gây nợ nần, có những hành vi chửi bới vợ con, xúc phạm gia đình bà và gia đình bà. Nhiều lần đập phá đồ đạc trong phòng. Dù bà và gia đình hai bên đã khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng ông H2 vẫn không sửa đổi. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hai bên đã sống ly thân từ cuối năm 2023 và không ai có trách nhiệm với ai trong cuộc sống. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà T1 yêu cầu được ly hôn với ông H2.

Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông H2 không đến tòa, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thể hiện sự bỏ mặc, không mong muốn vợ chồng hàn gắn. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà T1 và ông H2 không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị Thanh T1 được ly hôn với ông Phan Minh H2.

[2] Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số A2, ngày 23/02/2022 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre và lời khai của bà T1 thì có đủ căn cứ xác định bà T1 và ông H2 có 01 người con chung tên Phan Thanh H4 ngày 25/01/2022

Xét bà T1 yêu cầu được nuôi dưỡng con chung; ông H2 dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà T1. Đồng thời, trẻ Thanh H3 còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên càng cần sự chăm sóc của mẹ. Căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung T cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà T1 không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà T1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Về tài sản chung: Bà T1 xác định không có nên Hội Đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: Bà T1 xác định không có nên Hội Đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì bà T1 phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh T1 được ly hôn với ông Phan Minh H2.
  2. Về con chung: Bà Lê Thị Thanh T1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Thanh H4 ngày 25/01/2022 ông Phan Minh H2 không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con

  1. Về tài sản chung: không có
  2. Về nợ chung: Không có
  3. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Lê Thị Thanh T1 chịu, nhưng được trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số A3 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Thanh T1 đã nộp đủ án phí.
  4. Giấy chứng nhận kết hôn số A, ngày 28/12/2021 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre cho bà Lê Thị Thanh T1 và ông Phan Minh H2 không còn giá trị pháp lý.
  5. Bà Lê Thị Thanh T1 và ông Phan Minh H2 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - UBND cấp giấy chứng nhận kết hôn;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2668/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 2668/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà T1 yêu cầu được ly hôn với ông H2; yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung: không có. HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger