|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 266/2024/HS-ST Ngày 30-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Nguyễn Thị Tư
Vũ Đức Dũng
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 604/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 632/2024/QÐST-HS ngày 23/9/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân Q, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1988 tại Thái Bình; nơi ĐKTT: 514/311 Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Q1 và bà Lê Hồng S; có vợ là Phạm Thị Thanh X và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/3/2012 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 21/5/2012, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng ra Quyết định Đình chỉ vụ án, đình chỉ điều trị bị can, miễn trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Xuân Q (Không có án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/5/2024.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/12/2022, Nguyễn Xuân Q sử dụng 01 giấy chứng minh sĩ quan giả, số: 15030116 mang tên Nguyên Xuân Q2 đến cửa hàng của chị Bùi Thị Huyền D (sinh năm: 1971, trú tại: số B L, Cầu Đ, Ngô Q3, Hải Phòng) để thuê 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang BKS: 15B2-176.73 với mục đích làm phương tiện đi lại, thời hạn thuê xe trong vòng 01 tháng. Sau khi hết thời hạn thuê xe, Chị D đã liên hệ nhiều lần nhưng Q2 chưa trả lại. Ngày 08/01/2024, chị D đã làm đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Công an quận N và giao nộp 01 giấy chứng minh sĩ quan, số: 15030116 mang tên Nguyễn Xuân Q.
Tiến hành triệu tập, làm việc Nguyễn Xuân Q khai nhận: Sau khi thuê xe, Q đưa chiếc xe này cho vợ là Phạm Thị Thanh X, sinh năm 1995 để sử dạng làm phương tiện đi lại hàng ngày, chị X không biết xe Q đưa là của chị D. Ngày 21/04/2024, chị X đã giao nộp chiếc xe trên đến Công an quận N. Tại kết luận giám định số 1246/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K C Phòng kết luận 01 Giấy chứng minh sĩ quan, số: 15030116 họ tên Nguyễn Xuân Q, cấp bậc: Cấp uý. Đơn vị cấp Quân khu 3, ghi ngày 15/12/2015 là giả. Tại kết luận giám định số 309/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15B2-176.73 có số khung, số máy nguyên thủy của nhà sản xuất, không bị tẩy xóa hoặc chỉnh sửa.
Tại kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐ ĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15B2-176.73 màu xám đen đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 19,000,000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân Q khai nhận nguồn gốc giấy chứng minh sĩ quan giả là do Q đã nhờ một người nam giới (Q không nhớ đặc điểm) scan Giấy chứng minh sĩ quan do ngành Quân đội cấp cho Q ở một quán phô tô trên đường L, phường H, quân Đ, Hải Phòng (Q không nhớ địa chỉ quán) từ khoảng thăng 8/2022 với mục đích sử dụng thay cho giấy thật. Q đưa cho chị D để làm tin về việc thuê xe và không có mục địch chiếm đoạt xe của chị D.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:
- - 01 Giấy chứng minh sĩ quan, số: 15030116 họ tên Nguyễn Xuân Q, cấp bậc: Cấp úy, Đơn vị cấp: Quân khu C1, ghi ngày 15/12/2015 (chuyển kèm theo hồ sơ) Đối với xe mô tô BKS: 15B2-176.73 nhãn hiệu Honda Airblade có chủ sở hữu hợp pháp là chị Bùi Thị Huyền D. Ngày 31/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã trả lại chiếc xe trên cho chị D. Chị D không có yêu cầu gì thêm đối với Q.
Tại Bản Cáo trạng số 212/CT-VKSNQ ngày 20/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Ngô Xuân Q4 về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức, theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Xuân Q khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo ngoài xã hội.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Q mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân Q tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, khẳng định: Ngày 30/12/2022, Nguyễn Xuân Q có hành vi sử dụng giấy chứng mình sĩ quan giả số: 15030116 họ tên Nguyễn Xuân Q, cấp bậc: Cấp úy, Đơn vị cấp: Quân khu C1 để mang đi cầm cố, thuê xe mô tô nhân hiệu Honda Airblade của chị Bùi Thị Huyền D với mục đích làm phương tiện đi lại.
[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Bị cáo được áp đụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Phạn tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng", "Người phạm tội thành khẩn khai báo", ngoài ra bị cáo có thời gian tham gia phục vụ quân ngũ nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
[6] Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản hành chính của nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng năm 2012 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy trị giá 35 triệu đồng, đã bị cơ quan Công an khởi tố vụ án và ra Kết luận Điều Tra. Tuy nhiên do Q có nhiều thành tích trong học tập, nhân thân tốt, gia đình bố mẹ đều có thành tích trong quân đội nên Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã ra Quyết định đình chỉ điều tra đối với Q. Mặc dù hành vi của Q thực hiện không xác định là tội phạm do chưa bị xét xử nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, đã từng có hành vi vi phạm pháp luật về chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy lần phạm tội này phải có mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
- Về biện pháp ngăn chặn:
[8] Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến thời điểm đi chấp hành án phạt tù.
- Về xử lý vật chứng:
[9] 01 Giấy chứng minh sĩ quan giả, số: 15030116 họ tên Nguyễn Xuân Q, cấp bậc: Cấp ủy, Đơn vị cấp: Quân khu C1, ghi ngày 15/12/2015 được lưu trữ trong hồ sơ làm tài liệu chứng cứ của vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự:
[10] Chị D đã nhận lại chiếc xe máy Honda Airblade BKS 1582-176.73 và không có yêu cầu bị cáo Q bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Q 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến thời điểm đi chấp hành án phạt tù.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Xuân Q phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Xuân Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 266/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
- Số bản án: 266/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quý
