|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 266 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22/8/2023.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Mai Hoa |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Dương Thị Kim Hồng |
| Bà Nguyễn Thị Bích Liên |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 281/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/6/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 219/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1993,
Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Phạm Đình H, sinh năm 1981,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.
Chị T, anh H đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Hoàng Thị T trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Phạm Đình H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 01/7/2016 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống cùng gia đình nhà chồng tại thôn L, xã H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2017, sau khi chị sinh con thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Tháng 02/2018, chị và con đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã A, thành phố H sinh sống từ đó cho đến nay. Đầu năm 2019, anh H đi Hàn Quốc làm việc nhưng không bàn bạc gì với chị. Từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung Phạm Đình Hải P, sinh ngày 12/01/2018, hiện cháu P đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Chị và anh H đã thống nhất để chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P cho đến khi trưởng thành và anh H có trách nhiệm cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Hàn Quốc nên Tòa án đã xác minh qua gia đình anh H, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của anh H. Ông Phạm Đình Ư là bố đẻ của anh H trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H như chị T trình bày là đúng. Hiện nay, anh H đang làm việc tại Hàn Quốc, sau khi nhận được thông báo thụ lý và các văn bản của Tòa án, ông đã thông báo cho anh H biết về việc chị T có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Quan điểm của anh H nhất trí ly hôn và đồng ý để chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Đình Hải P, sinh ngày 12/01/2018 đến khi trưởng thành. Chị T và anh H thống nhất anh H sẽ cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung 5.000.000 đồng/tháng. Hiện nay, anh H đang đi làm xa nên anh H xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa, các văn bản Tòa án gửi cho anh H đề nghị gửi cho ông và ông sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh H.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị T có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Phạm Đình H; Giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Đình Hải P, sinh ngày 12/01/2018 cho đến khi trưởng thành. Anh H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung là 5.000.000 đồng/tháng; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Hoàng Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Phạm Đình H. Anh H hiện đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị T và gia đình anh H cung cấp địa chỉ nhưng chị T và gia đình anh H không cung cấp được. Ông Phạm Đình Ư là bố đẻ anh H xác định anh H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, ông đã thông báo về việc chị T có đơn xin ly hôn, anh H không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh H.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Phạm Đình H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 01/7/2016 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ thời điểm đó cho đến nay. Đầu năm 2019, anh H đi làm việc tại Hàn Quốc nhưng không bàn bạc gì với chị T. Chị T xác định không còn tình cảm với anh H và có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình anh H có quan điểm nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị T. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị T được ly hôn anh H là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Phạm Đình Hải P, sinh ngày 12/01/2018. Hiện cháu P đang do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T và anh H thống nhất để chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P, anh H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung 5.000.000 đồng/tháng. Xét thấy anh H hiện đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, hiện tại con chung đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của hai bên, giao cháu Phạm Đình Hải P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung 5.000.000 đồng/tháng.
Anh H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Phạm Đình H.
2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Đình Hải P, sinh ngày 12/01/2018 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Phạm Đình H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị Hoàng Thị T là 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Anh Phạm Đình H được quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày chị Hoàng Thị T có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu anh Phạm Đình H chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000814 ngày 14/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương).
Anh Phạm Đình H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung (anh H chưa nộp).
4. Về quyền kháng cáo: Chị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 266/2023/HNGĐ-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 266/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thu xin ly hôn và giải quyết nuôi con chung Phạm Đình Hiền
