|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 266/2023/HNGĐ-ST;
Ngày: 21/12/2023;
V/v tranh chấp HNGĐ-Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Bà Nguyễn Thị Ly.
- 2. Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo. Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Ông Nguyễn Phước Lợi – kiểm Sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 597/2023/TLST-HNGĐ ngày 9 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 525/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N – sinh năm 1970; Nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Kim L – sinh năm 1971; Nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày: ông và bà L quen biết và tiến tới hôn nhân vào năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tin tưởng nhau trong vấn đề tiền bạc để chi tiêu trong gia đình. Nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn bà L.
Về con chung: vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng G, sinh ngày 25/02/1993; Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 31/7/1996; Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh ngày 19/7/1999 hiện ba con đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn Bà Lê Kim L đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gởi đến Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: ông N, bà L chung sống kết hôn năm 1992 không đăng ký kết hôn nên hôn nhân không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau. Do ông N, bà L không đăng ký kết hôn nên đề nghị không công nhận là vợ chồng. Về con chung có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng G, sinh ngày 25/02/1993; Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 31/7/1996; Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh ngày 19/7/1999 hiện ba con đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung tranh chấp: ông N bà L chung sống với nhau vào năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong cuộc sống chung vợ chồng theo ông N trình bày do bất đồng quan điểm trong vấn đề tiền bạc; nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn bà L. Xét thấy ông N bà L chung sống với nhau thời gia đã lâu nhưng không đăng ký hôn theo quy định nên hôn nhân không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong thời gian chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do không tin tưởng nhau trong việc chi tiêu của gia đình nên cả hai không quan tâm đến nhau. Năm xin ly hôn bà L không có ý kiến phản đối; do ông N bà L chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân gia đình không công nhận ông N bà L là vợ chồng.
[3]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng G, sinh ngày 25/02/1993; Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh ngày 31/7/1996; Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh ngày 19/7/1999 hiện ba con đã trưởng thành nên không đề cập đến vấn đề cấp dưỡng và nuôi con.
[4]. Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
[5]. Về quan hệ nợ chung: không có.
[6]. Án phí hôn nhân sơ thẩm: ông N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 39 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn N và bà Lê Kim L là vợ chồng.
Về quan hệ con chung: đã trưởng thành nên không đề cập đến vấn đề cấp dưỡng và nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về quan hệ nợ chung: không có.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ theo biên lai thu số 0014003 ngày 9/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 266/2023/HNGĐ-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hngđ-ly hôn
- Số bản án: 266/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp HNGĐ-Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn vì tình cảm không còn
