|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 266/2024/HS-ST
Ngày: 13/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lâm
- Ông Bùi Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 285/2024/TLST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 296/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/2008; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã G, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Bùi Thị N; tiền án: Không, tiền sự: Tháng 12/2023 Công an xã G, C, Hà Tĩnh xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; bị cáo đầu thú, tạm giữ ngày 01 tháng 6 năm 2024 chuyển tạm giam ngày 10/6/2024 hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. “Có mặt”.
- Đặng Quốc C, sinh ngày 14 tháng 7 năm 2008; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã G, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quốc M (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; bị cáo đầu thú, tạm giữ ngày 01 tháng 6 năm 2024 chuyển tạm giam ngày 10/6/2024 hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. “Có mặt”.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo C: Bà Nguyễn Thị H (là mẹ đẻ). “Có mặt".
Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Quách Thị Thu H1 – Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh số 2 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. “Có mặt”.
Đại diện Đoàn thanh niên: Ông Nguyễn Văn T2 – Bí thư Đoàn T3 phường B, quận L, thành phố Hà Nội. “Có mặt”.
Bị hại: Chị Bùi Thu A, sinh ngày 14/02/2006, nơi cư trú: Số C, Quán T, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số B B, phường L, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 29/5/2024 Đặng Quốc C rủ Nguyễn Văn T đi cướp giật tài sản, T đồng ý. Khoảng 22h00 ngày 29/5/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô Wave màu đỏ, không đeo biển kiểm soát chở Đặng Quốc C đi từ số G ngõ B L, P.H, H, Hà Nội đi lên cầu C sang khu vực L với mục đích tìm người cầm điện thoại sơ hở để cướp giật tài sản, cả hai thống nhất T điều khiển xe mô tô áp sát người bị hại, còn C có nhiệm vụ cướp giật tài sản, khi C cướp giật được tài sản, T sẽ điều khiển xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát. Khi T điều khiển xe mô tô chở C đi trên đường Đ - X đến gần khu vực cây xăng B, thuộc phường B, L, Hà Nội thì phát hiện chị Bùi Thu A (sinh năm: 2006, HKTT: 213/68 B, P.L, Q.L, Hà Nội) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, BKS: 29B2 – 087.73 theo hướng cầu C đi cầu V, tay trái đang cầm 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng bên trong ốp điện thoại có 400.000 đồng để nghe điện thoại thì T điều khiển xe mô tô áp sát vào phía bên trái xe mô tô của chị A từ phía sau còn C dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị A. Khi lấy được điện thoại của chị A, T tăng ga bỏ chạy di chuyển trên một số tuyến phố của quận L. Sau đó di chuyển về phòng trọ tại số G ngõ B L, P.H, H, Hà Nội. Khi về đến phòng trọ, T và C nói với Nguyễn Xuân S1, sinh năm: 2009, HKTT: Thôn B, X.Gia Hanh, H.Can Lộc, Hà Tĩnh; Trần Hoàng Q, sinh năm: 2007, HKTT: Thôn T, X.Thường Nga, C, Hà Tĩnh và Lê Đôn H2, sinh năm: 2007, HKTT: Thôn C, X.Thường Nga, C, Hà Tĩnh về việc vừa cướp giật được chiếc điện thoại của chị Bùi Thu A.
Khoảng 7h00 ngày 30/5/2024, T, C và Sáng đến địa chỉ C L, TT.Lim, T, Bắc Ninh để bán chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng đã cướp giật được của chị A cho ông Nguyễn Hồng S, sinh năm: 1964, HKTT: TT.Lim, T, Bắc Ninh với giá 5.300.000 đồng. Sau đó, cả 3 đối tượng tiêu xài cá nhân hết.
Vật chứng thu giữ trong vụ án này: 01 xe máy Wave, màu đỏ; 01 điện thoại mà các bị cáo cướp giật của chị A; thu giữ số tiền của Lê Đôn H2 1.920.000đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 144 ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận như sau: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, dung lượng 256 GB, số IMEI1: 352853115188175, IMEI2: 352853115246049, đã qua sử dụng trị giá 8.000.000 đồng của chị A.
Tại bản Cáo trạng số: 266/CT-VKS-LB ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T và Đặng Quốc C về tội: “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 đến 27 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2024.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc C từ 15 đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu của các bị cáo mỗi bị cáo 200.000 đồng sung quỹ Nhà nước; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.920.000 đồng để giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận L, thành phố Hà Nội; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại; người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 22h00 phút, ngày 29/5/2024 tại đề L, X gần khu vực cây xăng B thuộc phường B, L, Hà Nội, Nguyễn Văn T có hành vi điều khiển xe máy chở Đặng Quốc C cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu vàng trị giá 8.000.000 đồng của chị Bùi Thu A. Vì vậy, các bị cáo phạm tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm, trong đó bị cáo C giữ vai trò là người khởi xướng cùng bị cáo T thực hành tích cực.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội; gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về nhân thân: Bị cáo C chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo T có 01 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản, thể hiện bị cáo không chịu rèn luyện, cải tạo mình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú. Quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[3]. Về vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô Wave, màu đỏ, số khung: RLH5A393XPY 077454, số máy: 5A70E-0106541 thu giữ của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Kiều O (Sinh năm: 1996; HKTT: Thôn K, C, A, Nghệ An) chị mua mới năm 2023 và đăng ký tên M1 để làm phương tiện đi lại trong gia đình Ngày 25/5/2024 anh Trần Đình S2 (sinh năm: 1990, HKTT: Thôn K, X.C, H.Anh S2, Nghệ An) là chồng chị O sử dụng đi làm tại Công ty G địa chỉ số G N, P.L, TP ., Nghệ An, đến ngày 26/5/2024 anh lấy xe để về thì bị mất vì vậy anh đã đến Công an phường P.L, TP ., Nghệ An trình báo. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn T và Nguyễn Xuân S1 khai nhận lấy trộm chiếc xe tại số G N, P.L, TP ., Nghệ An nên Cơ quan CSĐT – Công an quận L đã tiến hành bàn giao chiếc xe mô tô Wave, màu đỏ, số khung: RLH5A393 XPY077454, số máy: 5A70E-0106541 cho cơ quan CSĐT – Công an thành phố V, Nghệ An để giải quyết theo quy định. Nên Tòa án không xem xét giải quyết;
- Đối với số tiền mà Cơ quan điều tra Công an quận L thu của Lê Đôn H2 1.920.000 đồng không liên quan đến vụ án này nên giao lại số tiền trên cho Cơ quan điều tra giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[4]. Về dân sự: Chị Bùi Thu A đã nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số IMEI1: 352853115188175, IMEI2: 352853115246049 không có yêu cầu đề nghị gì khác về bồi thường dân sự đối với Nguyễn Văn T và Đặng Quốc C. Đối với số tiền 400.000 đồng mà các bị cáo cướp giật của chị A để trong ốp điện thoại, hai bị cáo tiêu xài hết, chị A không yêu cầu số tiền này. Do đó, cần truy thu mỗi bị cáo 200.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
[5]. Về vấn đề khác:
- Đối với ông Nguyễn Hồng S khi mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số IMEI1: 352853115188175, IMEI2: 352853115246049 của Nguyễn Văn T và Đặng Quốc C không biết là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT – Công an quận L không xem xét xử lý ông Nguyễn Hồng S về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Về dân sự: Ông Nguyễn Hồng S đã nhận số tiền của gia đình các bị cáo bồi thường: 5.300.000đồng là số tiền ông S đã mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng của Nguyễn Văn T và Đặng Quốc C. Ông S không yêu cầu gì nên không phải giải quyết.
- Đối với Nguyễn Xuân S1 không trực tiếp tham gia cùng với Nguyễn Văn T và Đặng Quốc C cướp giật tài sản mà cùng T, C đi bán điện thoại Iphone 11 Promax, màu vàng cướp giật được của chị A. Tại thời điểm S1 đi tiêu thụ tài sản cùng T và C, Nguyễn Xuân S1 mới được 14 tuổi 5 tháng 07 ngày chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 12 BLHS nên Cơ quan CSĐT – Công an quận L không xem xét xử lý đối với Nguyễn Xuân S1 là có căn cứ.
[6]. Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí cho bị cáo C vì lúc phạm tội chưa đủ 16 tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Đặng Quốc C về tội: “Cướp giật tài sản".
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2024.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc C 20 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Truy thu của bị cáo C, T mỗi bị cáo 200.000 đồng sung quỹ Nhà nước;
- Giao cho Công an quận L số tiền 1.920.000 đồng để giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự theo Giấy nộp tiền vào tài khoản kho bạc Nhà nước quận L, ngày 05/11/2024 của Công an quận L (Nộp vào tài khoản số: 39490104858300000, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo C.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Quang |
Bản án số 266/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 266/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
