Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 266/2024/DS-PT

Ngày: 21 - 11 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay

Tài sản và hợp đồng góp hụi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Lạc
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Trường
Bà Phạm Thị Hồng Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Nhơn – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Ông Phan Thanh Hào – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 90/2024/DSST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 309/2024/QĐPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N – sinh năm: 1973

Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị N là anh Lê Tấn P – sinh năm: 1976 (Tờ ủy quyền ngày 18/7/2023)

Địa chỉ: ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn:

1/ Chị Lê Thị X – sinh năm: 1984

2/ Anh Nguyễn Văn Ú – sinh năm: 1978

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Hồng V – sinh năm: 1975

Cùng địa chỉ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

1/ Bà Cao Thị N1 – sinh năm: 1958

2/ Chị Nguyễn Thị Mười M – sinh năm: 1972

3/ Bà Cao Thị N1 – sinh năm: 1958

4/ Bà Lâm Thị B – sinh năm: 1975

Cùng địa chỉ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

5/ Chị Nguyễn Thị Y – sinh năm: 1979

Địa chỉ: ấp M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: nguyên đơn Trần Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 19/7/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị N do anh Lê Tấn P đại diện trình bày:

Từ năm 2019 đến năm 2020, chị N có tham gia 05 dây hụi tháng (tên trong danh sách hụi “chị 5 Vủ” và “chị N”) do hai vợ chồng chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú là chủ thảo, cụ thể:

* Dây thứ nhất:

Hụi tháng 5.000.000đồng, mở hụi ngày 12/5/2019 âl (14/6/2019dl) mãn ngày 04/02/2023 âl (03/3/2023dl), có 14 phần, chị N tham gia 01 phần. Chị N đóng được 10 lần hụi sống với số tiền 29.920.000đ. Đến kỳ khui hụi thứ 11 thì chị X bể hụi. Dây hụi này chị X còn nợ chị N tiền hụi là 29.920.000đ.

* Dây thứ hai:

Hụi tháng 5.000.000đồng, mở hụi ngày 19/7/2019 âl (20/7/2019dl) mãn ngày 30/6/2023 âl (16/8/2023dl), có 18 phần, chị N tham gia 02 phần. Chị N đóng được 07 lần hụi sống với số tiền 37.720.000đ. Đến kỳ khui hụi thứ 08 thì chị X bể hụi. Dây hụi này chị X còn nợ chị N tiền hụi là 39.720.000đ.

* Dây thứ ba:

Hụi tháng 10.000.000đồng, mở hụi ngày 20/8/2019 âl (18/9/2019dl) mãn ngày 20/11/2022 âl (13/12/2022dl), có 14 phần, chị N tham gia 02 phần. Chị N đóng được 10 lần hụi sống với số tiền 60.960.000đ. Đến kỳ khui hụi thứ 11 ngày 20/01/2022 (20/02/2022 dl) thì chị X bể hụi. Dây hụi này chị X còn nợ chị N tiền hụi là 55.720.000đ.

* Dây thứ tư:

Hụi tháng 5.000.000đồng, mở hụi ngày 09/4/2019 âl (13/5/2019dl) mãn ngày 19/4/2023 âl (27/5/2023dl), có 16 phần, chị N tham gia 02 phần. Chị N đóng được 10 lần hụi sống với số tiền 62.380.000đ. Đến kỳ khui hụi thứ 11 ngày 09/10/2021 (13/11/2021 dl) thì chị X bể hụi. Dây hụi này chị X còn nợ chị N tiền hụi là 62.380.000đ.

* Dây thứ năm:

Hụi tháng 5.000.000đồng, mở hụi ngày 30/5/2020 âl (12/7/2020dl) mãn ngày 30/7/2023 âl (14/9/2023dl), có 20 phần, chị N tham gia 3,5 phần. Chị N đóng được 05 lần hụi sống với số tiền 54.600.000đ. Đến kỳ khui hụi thứ 06 ngày 30/8/2021 (06/10/2021 dl) thì chị X bể hụi. Dây hụi này chị X còn nợ chị N tiền hụi là 37.400.000đ.

Như vậy, 05 dây hụi trên chị X còn nợ chị N tiền hụi là 225.140.000đ.

Ngoài ra, chị N có cho chị X vay nhiều lần số tiền 500.000.000đ, thỏa thuận lãi suất 5% -6%/tháng, mục đích để chị X cho vay lại, không có làm biên nhận nhưng chị X có ghi lại các khoản vay như sau: 02 lần mỗi lần 120.000.000đ; 30.000.000đ; 60.000.000đ; 170.000.000đ đến ngày 10/3/2021 thì chị X ghi lại tổng số tiền là 500.000.00đ. Không có ai chứng kiến. Chị X hứa khi nào chị N xây cất nhà thì chị X trả nợ cho chị N. Sau đó, chị X có trả được cho chị N 93.300.000đ thì ngưng cho đến nay.

Chị X là người trực tiếp tham gia thảo hụi nhưng anh Ú là chồng chị X có đi góp hụi. Khoản nợ hụi của chị N thì anh Ú có biết vì thời điểm hụi và vay chị X và anh Ú là vợ chồng hợp pháp chưa ly hôn.

Nay chị N yêu cầu chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú phải trả số tiền nợ hụi là 225.140.000đ (hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) và tiền nợ vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng), tổng cộng là 725.640.000đ (bảy trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), không yêu cầu trả lãi.

Chị N không đồng ý đối với yêu cầu phản tố của chị X.

* Tại đơn phản tố đề ngày 27/10/2023; Đơn phản tố bổ sung đề ngày 09/4/2024 và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án bị đơn chị Lê Thị X trình bày:

Chị X thừa nhận có làm chủ thảo của nhiều dây hụi, trong đó có chị Trần Thị N tham gia hụi viên, tên trong danh sách hụi “Chị N” và “5 V”. Chị N tham gia 16 dây hụi (trong đó có: 08 dây hụi tháng, 06 dây hụi 03 tháng, 02 dây hụi mùa), cụ thể:

* Đối với 08 dây hụi tháng:

- Dây hụi thứ nhất: Hụi 500.000đ, mở ngày 19/12/2018âl nhằm ngày 24/01/2019 al, mãn hụi ngày 24/9/2021 dl, có 32 phần, chị N tham gia 02 phần. Đến lần khui hụi tứ 04 chị N lãnh hụi, số tiền lãnh hụi 11.390.000đ, trừ thảo 200.000đ còn lại 11.190.000đ chị X giao đủ tiền hụi cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N đóng được 03 lần hụi chết thì ngưng. Chị X phải choàng hụi thay cho chị N từ kỳ khui hụi thứ 08 đến kỳ thứ 32 là 25 lần x 500.000đ= 12.500.000đ.

Ở phần hụi 01 phần hụi còn lại, đến lần khui hụi thứ 05 chị N lãnh hụi số tiền lãnh hụi 11.390.000đ, trừ thảo 200.000đ, còn lại 11.190.000đ chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N đóng được 03 lần hụi chết thì ngưng. Chị X phải choàng hụi thay cho chị N từ kỳ khui hụi thứ 9 đến kỳ thứ 32 là 24 lần x 500.000đ= 12.000.000đ. Dây hụi này chị N còn nợ chị X tiền hụi là 24.500.000đ.

- Dây thứ hai: Hụi 500.000đ, mở ngày 19/12/2018âl nhằm ngày 24/01/2019dl, mãn hụi ngày 24/9/2021 dl, có 32 phần, chị N tham gia 01 phần. Đến lần khui hụi lần thứ 18 chị N lãnh hụi, số tiền lãnh hụi là 15.900.000đ, trừ thảo 200.000đ, còn lại chị X giao đủ cho chị N 15.700.000đ. Sau khi lãnh hụi chị N không đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 19 đến kỳ 24: 06 kỳ hụi x 500.000đ x 1 phần =3.000.000đ. Dây hụi này chị N nợ tiền hụi chị X là 3.000.000đ.

- Dây hụi thứ ba: Hụi 1.000.000đ, mở ngày 25/01/2019âl nhằm ngày 01/3/2019 dl, mãn hụi ngày 01/5/2020 dl, có 14 phần, chị N tham gia 02 phần.

Đến lần khui hụi lần thứ 10 chị N lãnh hụi với số tiền 11.400.000đ, trừ thảo 400.000đ, còn lại số tiền 11.000.000đ chị X giao đủ cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 11 đến kỳ 14: 04 kỳ hụi x 1.000.000đ x 1 phần =4.000.000đ.

Ở phần hụi còn lại, chị N lãnh hụi ở lần thứ 11, với số tiền 11.400.000đ, trừ thảo 400.000đ, còn lại số tiền 11.000.000đ chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 12 đến kỳ 14: 03 kỳ hụi x 1.000.000đ x 1 phần =3.000.000đ. Dây hụi này chị N nợ tiền hụi chị X là 7.000.000đ.

- Dây thứ 4: Hụi 500.000đ, mở ngày 09/3/2019 âl (nhằm ngày 13/4/2019dl), mãn hụi ngày 13/9/2021dl, có 21 phần, chị N tham gia 01 phần. Đến lần khui hụi lần thứ 08 chị N lãnh hụi, số tiền lãnh hụi là 8.070.000đ, trừ thảo 200.000đ, còn lại chị X giao đủ cho chị N 7.870.000đ. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 09 đến kỳ 21: 12 kỳ hụi x 500.000đ x 1 phần =6.000.000đ. Dây hụi này chị N nợ tiền hụi chị X là 6.000.000đ.

- Dây hụi thứ 5: Hụi 500.000đ, mở ngày 30/5/2019âl (nhằm ngày 02/7/2019dl), mãn hụi ngày 02/10/202dl, có 27 phần, chị N tham gia 01 phần. Đến lần khui hụi lần thứ 18 chị N lãnh hụi, số tiền lãnh hụi là 11.830.000đ, trừ thảo 200.000đ, còn lại chị X giao cho đủ chị N 11.630.000đ. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 19 đến kỳ 27: 08 kỳ hụi x 500.000đ x 1 phần =4.000.000đ. Dây hụi này chị N nợ tiền hụi chị X là 4.000.000đ.

- Dây thứ 6: Hụi 1.000.000đ, mở ngày 09/12/2019âl nhằm ngày 03/01/2020dl, mãn hụi ngày 03/3/2022dl, có 26 phần, chị N tham gia 01 phần. Đến lần khui hụi lần thứ 11 chị N lãnh hụi với số tiền 27.000.000đ, trừ thảo 400.000đ, còn lại số tiền 26.600.000đ chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 12 đến kỳ 14: 03 kỳ hụi x 1.000.000đ x 1 phần =3.000.000đ. Dây hụi này chị N nợ tiền hụi chị X là 3.000.000đ.

- Dây thứ 7: Hụi 1.000.000đ, mở ngày 25/02/2020âl nhằm ngày 18/3/2020dl, vỡ hụi ngày 10/6/2022dl, có 30 phần, chị N tham gia 03 phần. Đến lần khui hụi lần thứ 05 chị N lãnh hụi với số tiền 19.640.000đ, trừ thảo 400.000đ, còn lại số tiền 19.240.000đ chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 06 đến kỳ 28 (vỡ hụi): 23 kỳ hụi x 1.000.000đ x 1 phần =23.000.000đ.

Ở phần hụi thứ hai, chị N lãnh hụi ở lần thứ 08 với số tiền 21.000.000đ, trừ thảo 400.000đ, còn lại số tiền 20.600.000đ chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải chèn hại cho chị N từ kỳ hụi thứ 09 đến kỳ 28 (vỡ hụi): 20 kỳ hụi x 1.000.000đ x 1 phần =20.000.000đ.

Ở phần hụi thứ ba, chị N có đóng hụi sống từ lần thứ 01 đến lần thứ 14 thì ngưng, chị X phải đóng tiền hụi sống cho chị N từ kỳ 15 đến kỳ 28: 14 kỳ với số tiền 12.000.000đ.

Dây hụi này chị N nợ tiền hụi chị X là 55.000.000đ.

- Dây thứ 8: Hụi 500.000đ, mở ngày 09/11/2019âl (nhằm ngày 04/12/2019dl), mãn hụi ngày 04/3/202dl, có 21 phần, chị N tham gia 01 phần. Đến lần khui hụi lần thứ 13 chị N lãnh hụi với số tiền 8.880.000đ, trừ thảo 200.000đ, còn lại chị X giao cho chị N 8.680.000đ. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 14 đến kỳ 21: 08 kỳ hụi x 500.000đ x 1 phần =4.000.000đ. Dây hụi này chị N nợ tiền hụi tôi là 4.000.000đ.

Như vậy, ở 08 dây hụi tháng chị N còn nợ chị X số tiền 106.500.000đ.

* Đối với 06 dây hụi 03 tháng:

- Dây thứ nhất: Hụi 5.000.000đ, mở ngày 25/01/2019 âl (nhằm ngày 01/3/2019dl), mãn hụi ngày 01/3/2022, gồm 12 phần, chị N tham gia 03 phần. Đến lần khui hụi thứ 02 chị N lãnh hụi với số tiền là 33.000.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 31.000.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 03 đến kỳ 12 là: 10 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 50.000.000đ.

Ở phần hụi thứ hai, lần khui hụi thứ 03 chị N lãnh hụi với số tiền 34.000.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 32.000.000đ chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 04 đến kỳ 12 là: 09 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 45.000.000đ.

Ở phần hụi thứ ba,lần khui hụi thứ 05 chị N lãnh hụi với số tiền là 35.400.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 33.400.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 06 đến kỳ 12 là: 07 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 35.000.000đ

Ở dây hụi này, chị N nợ tiền hụi chị X là 130.000.000đ.

- Dây thứ hai: Hụi 2.000.000đ, mở ngày 25/01/2019 âl (nhằm ngày 01/3/2019 dl), mãn hụi ngày 01/3/2022 dl, gồm 11 phần, chị N tham gia 01 phần. Đến lần khui hụi thứ 02 chị N lãnh hụi với số tiền là 14.600.000đ, trừ thảo 8.000.000đ, còn lại 13.800.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N có đóng hụi chết cho chị X 05 lần. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 08 đến kỳ 11 là: 04 kỳ hụi x 2.000.000đ x 1 phần = 8.000.000đ. Dây hụi này chị N nợ tiền hụi chị X là 8.000.000đ.

- Dây thứ ba: Hụi 5.000.000đ, mở ngày 12/5/2019 âl (nhằm ngày 14/6/2019 dl), mãn hụi ngày 14/02/2022 âl, vỡ hụi ngày 10/6/2022 âl, gồm 14 phần, chị N tham gia 02 phần. Đến lần khui hụi thứ 03 chị N lãnh hụi với số tiền là 37.600.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 35.600.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 04 đến kỳ 11 là: 08 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 40.000.000đ

Ở phần hụi thứ hai, lần khui hụi thứ 05 chị N lãnh hụi với số tiền là 48.000.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 46.000.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 06 đến kỳ 11 là: 06 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 30.000.000đ.

Ở dây hụi này, chị N nợ tiền hụi chị X là 70.000.000đ.

- Dây thứ tư: Hụi 5.000.000đ, mở ngày 30/5/2020âl (nhằm ngày 20/7/202dl), mãn hụi ngày 20/7/2025âl, vỡ hụi ngày 10/6/2022 âl, gồm 20 phần, chị N tham gia 04 phần. Đến lần khui hụi thứ 01 chị N lãnh hụi với số tiền là 60.200.000.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 58.200.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 02 đến kỳ 08 (vỡ hụi) là: 07 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 35.000.000đ.

Ở 03 phần hụi còn lại, chị N đóng được 01 lần hụi sống thì ngưng, chị X phải chèn hụi cho chị N từ kỳ 02 đến kỳ thứ 08 với số tiền 22.660.000đ.

Ở dây hụi này, chị N nợ tiền hụi chị X là 57.660.000đ.

Tuy nhiên, trong 04 phần hụi này chị X có vay của chị N ½ phần ở 01 phần hụi với số tiền 4.900.000đ, nên dây hụi này chị N chỉ còn nợ chị X 52.760.000đ.

- Dây thứ năm: Hụi 5.000.000đ, mở ngày 09/01/2019aal (nhằm ngày 04/12/2019dl), mãn hụi ngày 04/12/2023dl, vỡ hụi ngày 10/6/2022, có 16 phần, chị N tham gia 02 phần. Đến lần khui hụi thứ 10 chị N lãnh hụi với số tiền là 62.500.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 60.500.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 11 đến kỳ 13 (vỡ hụi)là: 03 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 15.000.000đ

Ở phần hụi thứ hai, lần khui hụi thứ 11 chị N lãnh hụi với số tiền là 61.000.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 59.000.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 12 đến kỳ 13 (vỡ hụi) là: 02 kỳ hụi x 5.000.000đ x 1 phần = 10.000.000đ.

Ở dây hụi này, chị N nợ tiền hụi chị X là 25.000.000đ.

- Dây thứ sáu: Hụi 10.000.000đ, mở ngày 20/8/2019âl (nhằm ngày 18/9/2019dl), mãn hụi ngày 18/3/2021dl, vỡ hụi ngày 10/6/2022, có 14 phần, chị N tham gia 02 phần. Đến lần khui hụi thứ 02 chị N lĩnh hụi với số tiền là 75.780.000đ, trừ thảo 4.000.000đ, còn lại 71.780.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N có đóng hụi chết cho chị X từ kỳ thứ 03 đến kỳ thứ 07 thì ngưng. Chị X phải chèn hại cho chị N từ kỳ hụi thứ 08 đến kỳ 12 là: 05 kỳ hụi x 10.000.000đ x 1 phần = 50.000.000đ.

Ở phần hụi thứ hai, lần khui hụi thứ 07 chị N lãnh hụi với số tiền là 86.675.000đ, trừ thảo 4.000.000đ, còn lại 82.675.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N không có đóng hụi chết cho chị X. Chị X phải choàng hụi cho chị N từ kỳ hụi thứ 08 đến kỳ 12 là: 05 kỳ hụi x 10.000.000đ x 1 phần = 50.000.000đ.

Ở dây hụi này, chị N nợ tiền hụi chị X là 100.000.000đ.

Như vậy, ở 06 dây hụi 03 tháng chị N còn nợ chị X số tiền 385.760.000đ.

* Đối với 02 dây hụi mùa:

- Dây thứ nhất: Hụi 2.000.000đ, mở ngày 19/7/2019âl (nhằm ngày 19/8/2019dl), mãn hụi ngày 19/8/2025dl, vỡ hụi ngày 10/6/2022 ở kỳ hụi thứ 10, có 18 phần, chị N tham gia 01 phần. Chị N đóng hụi sống được 05 lần với số tiền 5.890.000đ. Từ kỳ 06 đến kỳ thứ 9 chị N không đóng hụi sống chị X phải choàng cho chị N số tiền 4.360.000đ nên dây hụi này chị X còn nợ tiền hụi sống của chị N là 1.530.000đ. Chị X đồng ý trả số tiền 1.530.000đ cho chị N.

- Dây thứ hai: Hụi 5.000.000đ, mở hụi ngày 19/7/2019âl (nhằm ngày 19/8/2019dl), mãn hụi ngày 19/8/2025dl, vỡ hụi ngày 10/6/2022 ở kỳ thứ 10, có 18 phần, chị N tham gia 02 phần. Chị N đóng hụi sống được 01 lần với số tiền là 3.200.000 đồng x 02 phần = 6.400.000đ. Đến lần khui hụi thứ 02 chị N lãnh hụi là 47.600.000đ, trừ thảo 2.000.000đ, còn lại 45.600.000đ, chị X giao đủ tiền cho chị N. Sau khi lãnh hụi chị N có đóng hụi chết cho chị X từ kỳ 07 đến kỳ 08. Chị X phải choàng hụi cho chị N ở kỳ hụi thứ 09 (đến kỳ 10 là vỡ hụi) là: 01 kỳ hụi x 5.000.000đ x 02 phần = 10.000.000đ. Dây hụi này, chị N còn nợ tiền hụi chị X là 10.000.000đ.

Như vậy, ở 02 dây hụi mùa chị N còn nợ chị X số tiền 10.000.000đ.

Tổng cộng số tiền nợ hụi chị N còn nợ chị X là 502.260.000đ

Nay chị N yêu cầu chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú phải trả số tiền nợ hụi là 225.140.000đ (hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) và tiền nợ vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng), tổng cộng là 725.640.000đ (bảy trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) thì chị X không đồng ý.

Chị X chỉ đồng ý trả số tiền nợ hụi cho chị N là 1.530.000đ (một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

Chị X yêu cầu phản tố yêu cầu chị Trần Thị N và anh Lê Hồng V phải trả số tiền nợ hụi là 502.260.000đ (năm trăm lẽ hai triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

* Tại bản khai ý kiến đề ngày 21/8/2023 và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Ú trình bày:

Anh Ú không biết sự việc tham gia hụi, vay giữa chị N và chị X. Anh không biết chị X có làm chủ thảo hụi. Anh Ú có nghề nghiệp thợ máy ổn định có thu nhập lo kinh tế gia đình. Chị X không phụ giúp kinh tế gia đình.

Anh Ú và chị X đã ly hôn vào ngày 17/8/2022 có Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.

Nay chị N yêu cầu anh Ú phải trả số tiền nợ hụi là 225.140.000đ (hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) và tiền nợ vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng), tổng cộng là 725.640.000đ (bảy trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) thì anh Ú không đồng ý.

* Tại bản khai ý kiến đề ngày 01/4/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Hồng V trình bày:

Đối với yêu cầu phản tố của chị X thì anh V không đồng ý vì anh không nợ tiền hụi của chị X.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2024/DSST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long quyết định:

Căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 217; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

* Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N.

    Buộc chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thị N số tiền nợ hụi là 225.140.000đ (hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

    Không chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị N yêu cầu chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú phải trả số tiền nợ vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng).

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Lê Thị X yêu cầu chị Trần Thị N và anh Lê Hồng V phải trả số tiền nợ hụi là 502.260.000đ (năm trăm lẽ hai triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

* Ngày 31/7/2024 nguyên đơn chị Trần Thị N có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm với nội dung như sau: yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ liên đới trả nguyên đơn số tiền nợ hụi là 225.140.000đ và số tiền nợ vay là 500.000.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến xét xử phúc thẩm.

Xét yêu cầu kháng cáo của chị N là không có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ:

Chị N trình bày có cho chị X và anh Ú vay nhiều lần với số tiền 500.000.000 đồng khi cho chị X vay tiền hai bên không có làm biên nhận nợ, không ai chứng kiến. Chị N nộp chứng cứ là tờ giấy ghi nội dung: “Xuân lấy tiền” và những con số kèm theo và chị N cho rằng đây là tờ giấy chị X ghi số tiền mà chị X vay của chị N. Tuy nhiên, chứng cứ mà chị N cung cấp không đủ cơ sở chứng minh chị X có nợ tiền vay của chị N vì chị X không thừa nhận có vay tiền của chị N, chứng cứ mà chị N cung cấp không thể hiện chị X có vay tiền của chị N với số tiền 500.000.000đ.

Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị N về việc yêu cầu chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú phải trả số tiền nợ vay là 500.000.000 đồng là có căn cứ. Cho nên kháng cáo của chị N là không có căn cứ để chấp nhận.

Từ những phân tích trên, quan điểm của kiểm sát viên như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị N

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Trần Thị N phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 17/7/2024 Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long xét xử và tuyên án sơ thẩm. Ngày 31/7/2024 nguyên đơn chị Trần Thị N có đơn kháng cáo là còn trong thời hạn kháng cáo; theo quy định tại Điều 273 được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm được qui định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: chị N tham gia chơi hụi do chị X làm đầu thảo. Trong quá trình góp hụi này sinh mâu thuẩn. Chị N khởi kiện yêu cầu chị X và chồng là anh Nguyễn Văn Ú cùng liên đới trả chị N số tiền hụi là 225.140.000đ và tiền nợ vay là 500.000.000đ. Tổng cộng là 725.140.000đ, không yêu cầu chị X trả lãi.

Chị X có yêu cầu phản tố: không đồng ý với yêu cầu của chị N. Chị X yêu cầu chị N và an Lê Hồng V có trách nhiệm trả chị số tiền nợ hụi 502.260.000đ.

Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử và tuyên án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N.

Buộc chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thị N số tiền nợ hụi là 225.140.000đ (hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

Không chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị N yêu cầu chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú phải trả số tiền nợ vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng).

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Lê Thị X yêu cầu chị Trần Thị N và anh Lê Hồng V phải trả số tiền nợ hụi là 502.260.000đ (năm trăm lẽ hai triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Sau khi xét xử sơ thẩm chị N kháng cáo yêu cầu buộc bị đơn Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ liên đới trả nguyên đơn số tiền nợ hụi là 225.140.000đ và số tiền nợ vay là 500.000.000đ.

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn chị N:

* Về nợ hụi: tại cấp sơ thẩm bị đơn chị X xác định bà năm tham gia chơi các dây hụi: hụi 5.000.000đ mở ngày 12/52019al mãn ngày 04/02/2023al; hụi 5.000.000đ mở ngày 19/7/2019al mãn ngày 30/6/2023al; hụi 10.000.000đ mỡ ngày 20/8/2019 mãn ngày 20/11/2022; hụi 5.000.000đ mở ngày 09/4/2019al mãn ngày 19/4/2023; hụi 5.000.000đ mở ngày 30/5/2020al mãn ngày 30/7/2023. Qua đó cho thấy nguyên đơn chị N có tham gia chơi hụi theo sự xác nhận của bị đơn chị X.Tuy nhiên, chị X cho rằng các dây hụi chị N đều lĩnh hụi nhưng không đóng hụi chết nên chị X phải chàng hụi. Nhưng trong suốt quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay chị X không cung cấp được chứng cứ chứng minh ngoài lời trình bày của mình. Chị X là đầu thảo hụi thì phải lập danh sách hụi viên, sổ hụi, biên nhận giao hụi cho chị N nhưng chị X cũng không cung cấp được bản chính cho Tòa xem xét. Chị N cho rằng trong quá trình góp hụi đã thực hiện đầy đủ, các dây hụi này chị N chưa lĩnh hụi thì chị X đã bể hụi. Nên chị N yêu cầu chị X trả số tiền đã góp hụi là 225.140.000đ. Cấp sơ thẩm xét xử buộc chị X trả chị N số tiền 225.140.000đ là có căn cứ.

* Về nợ vay: chị N trình bày có cho chị X và anh Ú vay nhiều lần với số tiền 500.000.000đ thể hiện chứng cứ chị N nộp cho Tòa tờ “ X lấy tiền”. Chứng cứ này ghi nội dung không rõ ràng, không thể hiện việc vay số tiền bao nhiêu? lãi suất như thế nào? Thời hạn vay? Bên cho vay và bên vay. Chứng cứ chị N đưa ra không đủ cơ sở để chứng minh chị X có nợ tiền vay của chị N. Mặt khác, chị X cũng không thừa nhận nên không có căn cứ để chấp nhận cho yêu cầu của nguyên đơn chị N yêu cầu chị X trả số tiền 500.000.000đ. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn chị N là không có cở sở để chấp nhận.

Từ nhận định trên:

Xét kháng cáo của nguyên đơn Trần Thị N là không có căn cứ.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là phù hợp với nhận định nên chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn chị Trần Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn nguyên đơn chị Trần Thị Năm

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 90/2024/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 217; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

* Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N.

    Buộc chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thị N số tiền nợ hụi là 225.140.000đ (hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

    Không chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị N yêu cầu chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn Ú phải trả số tiền nợ vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng).

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Lê Thị X yêu cầu chị Trần Thị N và anh Lê Hồng V phải trả số tiền nợ hụi là 502.260.000đ (năm trăm lẽ hai triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.Về án phí dân sự phúc thẩm: buộc nguyên đơn Trần Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ. Được khấu trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0009284 ngày 31/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Vĩnh Long

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND CC tại TP HCM: 01b;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 01b;
  • - CA.TAND TVL: 01b;
  • - Phòng KTNV&THA TAND TVL: 01b;
  • - TAND H. V: 01b;
  • - Chi cục THADS H. V : 01b;
  • - Mỗi đương sự: 01bản;
  • - Lưu HS: 06b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Lạc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2024/DS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 266/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay Tài sản và hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn Trần Thị Năm - bị đơn Lê Thị Xuân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger