|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 266/2024/HS-ST Ngày 13-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H, đối với vụ án hình sự thụ lý số 266/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 979/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Cao Văn X, sinh ngày 26 tháng 05 năm 1977 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Á (đã chết) và bà Vũ Thị Đ; có vợ là Vũ Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án phúc số 97/2008/HSST ngày 15/7/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích) bị tạm giữ ngày 30/6/2024; tạm giam ngày 05/7/2024; có mặt.
- Đặng Văn C, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C1 (đã chết) và bà Vũ Thị V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 25/2013/HSST ngày 29/01/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 48/2013/HSST ngày 29/11/2013, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Cướp tài sản; Bản án số 33/2018/HS-ST ngày 03/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật (đều đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 30/6/2024; tạm giam ngày 05/7/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 29/6/2024, Tổ công tác thuộc đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an quận L làm nhiệm vụ trên tuyến đường T, quận L, thành phố Hải Phòng phát hiện Cao Văn X điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát: 15B1-112.65 chở Đặng Văn C đi từ đường T rẽ trái đi về đường C, quận L, thành phố Hải Phòng không bật đèn báo chuyển hướng. Tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra, X và C không xuất trình được giấy tờ xe nên đã đưa X, C cùng xe mô tô về trụ sở Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an quận L tại địa chỉ số B H, phường C, quận L, Hải Phòng lập biên bản. Quá trình làm việc tổ công tác đã phát hiện thấy X, C có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã kết hợp cùng Công an phường C tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải C 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước khoảng 04cm x 07cm bên trong có 01 gói giấy đựng chất bột màu trắng dạng cục nghi ma túy, thu giữ trong ví để ở túi quần phía trước bên phải X đang mặc 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước khoảng 04cm x 07cm bên trong có 01 gói giấy đựng chất bột màu trắng dạng cục nghi ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Samsung và số tiền là 1.200.000đồng; thu giữ của X 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 ví da màu đen. Sau đó, lực lượng Công an đã dẫn giải X, C cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường C, quận L, Hải Phòng lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang .
Tại bản Kết luận giám định số 866/KL-KTHS (MT) ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
Chất bột màu trắng thu giữ của Đặng Văn C là ma túy, có khối lượng 0,14gam loại Heroine;
Chất bột màu trắng thu giữ của Cao Văn X là ma túy, có khối lượng 0,04gam loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra, Đặng Văn C và Cao Văn X khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 29/6/2024, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang BKS: 15B1-112.65 đến nhà X. Trong lúc nói chuyện, X rủ C đi mua Heroine về sử dụng, C đồng ý. C chở X đến quán nước ở khu vực thị trấn T thì dừng lại uống nước, X và C bàn bạc mỗi người góp 100.000đồng, sau đó X đưa 100.000đồng cho C rồi điều khiển xe chở C đến khu vực chắn đường T, quận L, thành phố Hải Phòng. Tại đây, X thấy 01 nữ giới khoảng 50 tuổi đang đứng ở gần đường ray tàu nên đã điều khiển xe đến gần. C xuống xe đưa cho người nữ giới 200.000đồng và đi theo khoảng 10m thì người nữ giới quay lại đưa cho C 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước khoảng 04cm x 07cm, bên trong chứa gói giấy màu trắng, C biết bên trong là Heroine nên cầm ra báo cho X biết là đã mua được ma túy. Mua xong, X chở C dọc đường tàu hướng về đường tàu Trần Nguyên H, đến chỗ vắng người thì dừng lại chia ma túy. X lấy từ trong ví ra 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 04cm x 07cm và 01 mảnh giấy màu trắng, sau đó đưa mảnh giấy cho C; C cầm và chia một ít ma túy vừa mua vào mảnh giấy đó rồi đưa lại cho X, Xuân gói lại và cho vào túi nilon rồi cất vào trong ví để túi quần phía trước bên phải; còn C cũng gói và cất số ma túy còn lại vào túi quần phía trước bên phải. Sau đó, X chở C đi đến đường Cát Cụt thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an quận L kiểm tra bắt giữ.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 15B1-112.65, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Vũ Thị V, sinh năm 1965, nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng, là mẹ của C. Khi bà V cho Công mượn xe, bà không biết C sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại chiếc xe trên cho bà V.
Đối với người nữ giới bán ma túy cho X và C, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, làm rõ.
Tại Cáo trạng số 274/CT-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Cao Văn X và Đặng Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Cao Văn X và bị cáo Đặng Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cao Văn X mức án từ 18-24 tháng tù, bị cáo Đặng Văn C mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Do các bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 866MT/PC09.
Trả lại bị cáo C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có ốp cao su màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 1.200.000đồng;
Trả lại bị cáo X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen;
Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo X.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:
- Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 17 giờ 05 phút ngày 29/6/2024, tại trụ sở Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an quận L địa chỉ Số B H, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Cao Văn X và bị cáo Đặng Văn C đã cùng nhau cất giữ trái phép 0,18gam Heroine với mục đích để sử dụng; trong đó bị cáo Cao Văn X trực tiếp cất giữ trái phép 0,04gam Heroine và bị cáo Đặng Văn C trực tiếp cất giữ trái phép 0,14gam Heroine thì bị bắt quả tang. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Cao Văn X và Đặng Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Đánh giá về tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo: Bị cáo X là người khởi xướng và lựa chọn địa điểm mua ma túy; bị cáo C tiếp nhận ý chí của bị cáo X và là người thực hành tích cực, đã trực tiếp giao dịch mua ma túy và tự chia cho mình lượng ma túy nhiều hơn. Số tiền mua ma túy do cả hai bị cáo cùng bỏ ra và cùng nhau đi mua. Do vậy, vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau.
- Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Heroine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, các bị cáo đã cố ý cất giữ trái phép để sử dụng. Về nhân thân, bị cáo X có 01 tiền án đã được xóa án tích, bị cáo C có 03 tiền án đều đã được xóa án tích, qua đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo là kém, các bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần căn cứ vào Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung:
- Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do các bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ các bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có ốp cao su màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Đặng Văn C, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần trả lại cho bị cáo C nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo Cao Văn X, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần trả lại cho bị cáo X
- Đối với 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo Cao Văn X, xét là vật không còn gá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí:
- Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: Cao Văn X, Đặng Văn C.
Tuyên bố:
Các bị cáo: Cao Văn X, Đặng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Bị cáo Cao Văn X 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 06 năm 2024.
Bị cáo Đặng Văn C 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 06 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo X và lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 409MT/PC09;
Trả lại cho bị cáo X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có sốserial: 351869078849943;
Trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có ốp cao su màu đen có số Imei: 351662615163120/01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có số seri: 359002148369799;
(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Trả lại cho bị cáo C số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
(Số tiền này Công an quận L đã Uỷ nhiệm chi cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 11 tháng 10 năm 2024).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩ Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo X, C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu H1
Về vật chứng: chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận L:
01 phong bì niêm phong số 866MT/PC09 chứa ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có ốp cao su màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Đặng Văn C;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 ví da màu đen thu giữ của Cao Văn X.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave mang BKS: 15B1-112.65, kết quả điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Vũ Thị V, sinh năm 1965, nơi cư trú: thôn N, xã K, huyện T, Hải Phòng (mẹ của C). Bà V cho Công mượn xe để làm phương tiện đi lại và không biết C sử dụng xe để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho bà V.
Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,
KẾT LUẬN
Hồi 17 giờ 05 phút ngày 29/6/2024, Cao Văn X cùng Đặng Văn C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam Heroin tại trụ sở Đội Cảnh sát giao thông trật tự, Công an quận L, số B H, phường C, quận L, Hải Phòng với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy có đủ căn cứ để xác định các bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:
- Họ tên bị can: Cao Văn X - sinh năm 1977 tại Hải Phòng. Tên gọi khác: khôngGiới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn Nam Phong 2, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12. Con ông: Cao Văn Á - đã chết. Con bà: Vũ Thị Đ - sinh năm 1952. Gia đình có 03 anh em, X là con thứ nhất. Bị can có vợ là: Vũ Thị L - sinh năm 1979. Có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án: bị can có 01 tiền án. Bản án số 10/2008/HSST ngày 23/5/2008, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (bị can đã chấp hành xong hình phạt tù và phần thi hành án dân sự - đã được xóa án tích). Tiền sự: không. Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 30/6/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H.
- Họ tên bị can: Đặng Văn C - sinh năm 1988 tại Hải Phòng. Tên gọi khác: khôngGiới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn Nam Phong 2, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Đặng Văn C1 - đã chết. Con bà: Vũ Thị V - sinh năm 1965. Gia đình có 03 chị em, C là con thứ 02. Bị can chưa có vợ con. Tiền án: bị can có 03 tiền án. Bản án số 25/2013/HSST ngày 29/01/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (bị can đã chấp hành xong hình phạt tù và phần thi hành án dân sự - đã được xóa án tích). Bản án số 48/2013/HSST ngày 29/11/2013, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, Hải Phòng xử 48 tháng tù tội Cướp tài sản (bị can đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành xong phần nghĩa vụ dân sự - đã được xóa án tích). Bản án số 33/2018/HS-ST ngày 03/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật (bị can đã chấp hành xong hình phạt tù và phần thi hành án dân sự - đã được xóa án tích). Tiền sự: không. Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 30/6/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H.
Bị can Cao Văn X, Đặng Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”
Các bị can không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị can được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với nữ giới bán ma túy cho X, C quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, làm rõ.
QUYẾT ĐỊNH
- Truy tố ra trước Toà án nhân dân quận Lê Chân để xét xử bị can Cao Văn X, Đặng Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Kèm theo Cáo trạng có:
- - Hồ sơ vụ án và bản thống kê tài liệu trong vụ án;
- - Vật chứng có biên bản bàn giao riêng.
Bản án số 266/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 266/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao văn X, Đặng Văn C - tàng trữ trái phép chất ma túy
