Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thúy

Ông Đỗ Đức Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 278/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Dương Mạnh D, sinh năm 2001 (Tên gọi khác: Không)

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Mạnh D1 (đã chết) và bà Ngô Thị T (đã chết); bị cáo chưa có vợ và con;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại Quyết định số 01/2020/QĐ-TA ngày 08/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng. Đã chấp hành xong ngày 29/5/2022.

Nhân thân:

  • + Quyết định số 01/2016/QĐ-TA ngày 28/7/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 18 tháng. Đã chấp hành xong ngày 08/02/2018.
  • + Tại Bản án số 153/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp

2

hành xong toàn bộ Bản án vào ngày 15/4/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

2. Lò Văn T1, sinh năm 1999 (Tên gọi khác: Không)

Nơi HKTT: Bản Nong, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K, sinh năm 1971 và bà Lò Thị B, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

3. Trần Văn C, sinh năm 1980 (Tên gọi khác: Không)

Nơi ĐKHKTT: Số B, ngõ A, khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1947; bị cáo có vợ Nguyễn Thị B1, sinh năm 1983; Có 02 con, lớn sinh năm 2004 và nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Tại Bản án số 259/2001/HSST ngày 27/4/2001 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 01/9/2002 được đặc xá trở về địa phương và đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
  • + Tại Bản án số 57/2010/HSST ngày 29/4/2010 bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
  • + Tại Bản án số 215/2019/HSST ngày 29/11/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ Bản án vào ngày 27/8/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị K1, sinh năm 1934. Địa chỉ tại số nhà A, ngõ H khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, tại phòng trọ số 02 thuộc khu nhà trọ của bà Ngô Thị K1 tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lò Văn T1 và Dương Mạnh D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ những vật chứng gồm:

3

  • - Tại nền phòng trọ gần vị trí D và T1 đang ngồi 01 mảnh giấy bạc trên mặt giấy có chất màu đen. D và T1 khai nhận là chất ma túy “đá” và ma túy “ngựa” của D và T1 góp tiền mua đang sử dụng nhưng chưa hết thì bị Công an bắt quả tang. Tổ công tác đã niêm phong mảnh giấy bạc chứa chất màu đen này trong phong bì thư ký hiệu (M);
  • - 02 bật lửa ga màu đỏ; 01 chai nước có vỏ bằng nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn 02 ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu cam và 01 đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu xanh. T1 và D khai nhận, đây là các dụng cụ T1 và D dùng để sử dụng ma túy.

Hồi 0 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Lò Văn T1. Quá trình khám xét thu giữ 01 mảnh giấy bạc có chứa chất màu đen (nghi là ma túy) trong 1 hộp nhựa màu trắng trên nền phòng dưới góc bàn bếp. T1 khai nhận đây là số ma túy ngựa của T1 chưa sử dụng hết, T1 cất đi để sử dụng tiếp, nguồn gốc số ma túy này là do T1 mua của một người đàn ông không quen biết tại khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh trưa ngày 15/4/2024 với giá 100.000 đồng. Cơ quan điều tra đã niêm phong mảnh giấy bạc chứa chất màu đen trong phong bì thư ký hiệu (K).

Tại Kết luận giám định số 1026/KL-KTHS ngày 18/4/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

“ + Chất màu đen trên tờ giấy bạc trong phong bì thư ký hiệu M gửi giám định có khối lượng là 0,1226 gam là ma túy Methamphetamine;

+ Chất màu đen trên tờ giấy bạc trong phong bì thư ký hiệu K gửi giám định có khối lượng là 0,0915 gam là ma túy Methamphetamine

Căn cứ kết quả kiểm tra nước tiểu, ngày 15/4/2024 kiểm tra Lò Văn T1 và Dương Mạnh D đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Mạnh D và Lò Văn T1 đã khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau:

D và T1 có mối quan hệ quen biết và đều là những người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. T1 đang thuê trọ tại phòng trọ số 02 tại khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh của bà Ngô Thị K1, sinh năm 1934 là bà nội của D, D đang ở với bà K1.

Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 15/4/2024, T1 đang ở phòng trọ của T1 thì D đi vào rủ T1 góp tiền mua ma túy “đá” và ma túy “ngựa” để cùng nhau sử dụng. T1 đồng ý. D và T1 mỗi người góp 100.000 đồng. Sau khi cầm số tiền 200.000 đồng, D quay lên phòng riêng của D lấy 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 nắp chai gắn 02 ống hút bằng nhựa màu xanh, (là dụng cụ sử dụng ma túy của D) mang xuống phòng trọ của T1 đưa cho T1. Do D quen biết với C và biết C bán ma túy nên D đi bộ đến nhà C để mua ma túy. Khi đến nhà C, D thấy cửa nhà đang hé mở nên gọi C ra. D đưa cho C 200.000 đồng và nói “Để cho cháu 01 nước, 01 ngô”, tức là ma túy ngựa và ma túy đá. Sau đó, C cầm tiền, đóng cửa lại đi vào trong nhà đến chỗ tủ thờ ở tầng 1, C lấy 01 đoạn ống hút nhựa màu cam hàn kín hai đầu, bên trong chứa 01 viên ma túy “ngựa” màu hồng và 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh

4

thể màu trắng là ma túy “đá” rồi đi ra đút qua khe cửa ra ngoài cho D. D cầm 02 đoạn ống hút chứa ma túy này về phòng trọ của T1. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, tại phòng trọ của T1, D lấy chiếc nắp chai có gắn 2 ống hút bằng nhựa màu xanh lắp vào 01 chai nhựa có sẵn ở phòng T1 làm dụng cụ sử dụng ma túy, rồi đổ hết chất tinh thể màu trắng trong ống hút màu xanh cùng 01 viên ma túy ngựa trong ống hút nhựa màu cam ra để lên mặt giấy bạc, dùng bật lửa ga hơ nóng dưới mặt giấy. Sau đó, D và T1 thay nhau hút ma túy qua ống hút cắm trong chai nhựa. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi T1, D đang sử dụng ma túy trong phòng trọ của T1 thì bị lực lượng Công an phường Đ vào kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Đối với 0,1226 gam ma túy Methamphetamine Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình bắt quả tang, bị can D và T1 đều khai nhận là ma túy D và T1 góp tiền đi mua và đang cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nếu lực lượng Công an không kiểm tra bắt quả tang thì D và T1 sẽ sử dụng hết.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã dẫn giải D đến vị trí ngôi nhà D đã mua ma túy tối ngày 15/4/2024, đồng thời cho bị cáo D tiến hành nhận dạng đối tượng C mà D khai đã bán ma túy cho D, xác định được người bán ma túy cho D ngày 15/4/2024 là Trần Văn C, sinh năm 1980, trú tại: Số nhà B, ngõ A khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Hồi 10 giờ ngày 13/6/2024, Cơ quan điều tra phối hợp Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tiến hành khám xét tại nhà Trần Văn C, quá trình khám xét thu giữ được các vật chứng sau:

  • * Tại ngăn kéo tủ thờ tầng 01:
  • - 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa: 10 ống nhựa màu xanh được hàn hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 04 ống nhựa màu vàng được hàn hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).
  • - 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong có chứa: 03 ống nhựa màu xanh được hàn hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 03 ống nhựa màu vàng được hàn hai đầu bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; 02 ống nhựa màu xanh nước biển được hàn hai đầu, bên trong đều có chứa một viên nén hình tròn màu xanh; 45 ống nhựa màu hồng được hàn hai đầu, bên trong đều có chứa một viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy).
  • - 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy).
  • - 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy màu bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy).
  • - 01 cân tiểu ly màu bạc; 01 kéo bằng kim loại màu trắng; 01 ống hút bằng nhựa màu cam; 01 ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 ống hút bằng nhựa màu hồng; 01 ống hút bằng nhựa màu vàng.
  • * Tại phòng ngủ gác xép tầng hai:
  • - 01 túi nilong bên trong có chứa: 01 kéo bằng kim loại có chuôi màu đỏ; 02 ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 ống hút bằng nhựa màu xanh nước biển; 01 cân tiểu ly màu bạc.
  • - Số tiền 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) do C giao nộp.

5

Tại Kết quả giám định số 637 ngày 13/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận:

“+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 11,9035 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;

+ Các viên nén màu hồng, màu xanh bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 4,4580 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;

+ Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 5,4789 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine”

Quá trình điều tra, Trần Văn C khai nhận: Toàn bộ số ma túy thu giữ ngày 13/6/2024 tại nhà C là của C tàng trữ với mục đích để bán kiếm lời. Nguồn gốc số ma túy thu giữ nêu trên là do C mua của một người đàn ông không quen biết tối ngày 10/6/2024, tại rìa đường khu phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh với giá 3.500.000 đồng được 01 (một) túi nilong chứa 48 viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh là ma tuý “ngựa”; 01 (một) túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý “đá”; 01 (một) túi nilong chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroine. Sau khi mua được số ma túy trên, C mang về nhà, lấy ra một phần ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa” ra sử dụng. Sau đó, C chia 47 viên ma túy “ngựa” vào 47 ống hút; chia số ma túy “đá” vào 20 ống hút hàn kín hai đầu và 01 túi nilong màu trắng, chia số ma túy Heroine vào 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy màu bạc, rồi cất số ma túy này trong ngăn kéo chiếc tủ thờ ở tầng 1 nhà C để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an khám xét, thu giữ. Các dụng cụ khác thu giữ tại nhà C là của C dùng để chia nhỏ ma túy để bán. Việc C mua sử dụng, tàng trữ ma túy trong nhà và bán ma túy, chị Nguyễn Thị B1 là vợ của C không biết.

Ngoài ra, C khai nhận có mối quan hệ quen biết với Dương Mạnh D. Chiều ngày 15/4/2024, C mua được của một người đàn ông không quen biết ở khu phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy “đá” và ma túy “ngựa” với giá 100.000 đồng. Đến khoảng hơn 19 giờ ngày 15/4/2024, tại nhà số B, ngõ A khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, C đã bán cho D số ma túy vừa mua được với giá 200.000 đồng để kiếm lời.

Bản Cáo trạng số 196/CT-VKS-TS ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố:

  • - Các bị cáo Dương Mạnh D và Lò Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đồng ý với kết luận giá định và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa, phát biểu luận tội về hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố của Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố:

6

  • - Về tội danh: Các bị cáo Dương Mạnh D và Lò Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị cáo Trần Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • - Về hình phạt:
    • + Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Dương Mạnh D từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam 16/4/2024.
    • Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024.
    • + Áp dụng: Điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/6/2024.
    • Phạt bị cáo từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
    • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 phong bì thư được niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định đã được Phòng K2 Công an tỉnh B niêm phong ( Mặt trước phong bì có chữ: “ 01 phong bì thư được niêm phong trên mặt phong bì thư có ghi : Cơ quan CSĐT-CATP Từ Sơn, Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Sử dụng trái phép chất ma túy...")
      • + 01 phong bì thư được niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định đã được Phòng K2 Công an tỉnh B niêm phong (Mặt trước phong bì có chữ: “: Cơ quan CSĐT-CATP Từ Sơn, Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Trần Văn C, sinh năm: 1980...")
      • + 02 (hai) bật lửa gas màu đỏ; 01 (một) chai nước trên nắp có gắn 02 ống hút màu xanh; 01 (một) đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu cam; 01 (một) đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu xanh; 02 (hai) cân tiểu ly màu bạc; 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) kéo bằng kim loại có chuôi màu đỏ; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu cam; 03 (ba) ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu hồng; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu xanh nước biển.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Do

7

đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 15/4/2024, tại phòng trọ số B số nhà A, ngõ H khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (do Lò Văn T1 thuê, sử dụng một mình), Dương Mạnh D và Lò Văn T1 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: T1 cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy (chai nhựa, bật lửa) và góp số tiền 100.000 đồng đưa cho D để D đi mua ma túy. D góp số tiền 100.000 đồng, mang các dụng cụ sử dụng ma túy (01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 nắp chai gắn 02 ống hút bằng nhựa màu xanh) xuống phòng trọ của T1 và trực tiếp đi mua 200.000 đồng ma túy Methamphetamine của Trần Văn C, D lắp dụng cụ sử dụng ma túy rồi đổ hết chất ma túy lên mặt giấy bạc sau đó dùng bật lửa ga hơ nóng dưới mặt giấy để D và T1 thay nhau sử dụng. Trần Văn C có hành vi bán ma túy cho Dương Mạnh D với khối lượng còn lại là 0,2141 gam ma túy Methamphetamine. Ngoài ra, C còn cất giữ 16,3615 gam Methamphetamine và 5,478 gam ma túy Heroine mục đích để bán kiếm lời. Do vậy, hành vi của các bị cáo Dương Mạnh D và Lò Văn T1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Văn C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo D là người khởi xướng, rủ bị cáo T1 góp tiền và trực tiếp đi mua ma túy, mang dụng cụ đến phòng trọ của T1 để hai bị cáo sử dụng ma túy. Bị cáo T1 góp tiền và cung cấp địa điểm là phòng trọ do bị cáo thuê để bị cáo và D cùng sử dụng ma túy. Do vậy, bị cáo D, T1 có vai trò ngang nhau. Khi quyết định hình phạt sẽ căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Bị cáo Trần Văn C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy độc lập.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

8

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân xấu và có 01 tiền sự bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng. Bị cáo C đã nhiều lần bị Tòa án xét xử.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo C phạm tội với mục đích trục lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 (hai) bật lửa gas màu đỏ; 01 (một) chai nước trên nắp có gắn 02 ống hút màu xanh; 01 (một) đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu cam; 01 (một) đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu xanh thu giữ tại phòng trọ của T1; 02 (hai) cân tiểu ly màu bạc; 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) kéo bằng kim loại có chuôi màu đỏ; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu cam; 03 (ba) ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu hồng; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 (một) ống hút nhựa màu xanh nước biển thu giữ tại nhà Trần Văn C không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7.2] Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo C phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Liên quan trong vụ án còn có:

[8.1] Đối với 0,0915 gam ma túy Methamphetamine Cơ quan điều tra thu giữ trong một hộp nhựa màu trắng trên nền phòng dưới góc bàn bếp ở phòng trọ của T1, T1 khai nhận đây là ma túy của T1 vừa sử dụng buổi trưa ngày 15/4/2024 vẫn còn thừa nên T1 cất giấu với mục đích để sử dụng tiếp cho bản thân. T1 không có tiền án, tiền sự và chưa bị xử lý vi phạm hành chính về các hành vi liên quan đến ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng quy định pháp luật.

[8.2] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tối ngày 15/4/2024 tại phòng trọ của T1 đối với Lò Văn T1 và Dương Mạnh D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” đối với T1 và D về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định pháp luật.

[8.3] Đối với người đàn ông bán ma túy cho T1 ở khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh trưa ngày 15/4/2024. T1 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, lai lịch, đặc điểm của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

9

[8.4] Đối với người đàn ông không quen biết bán ma túy cho Trần Văn C ngày 15/4/2024 ở khu phố C, phường Đ, thành phố T, Bắc Ninh ( số ma túy sau khi mua được của người này, C bán cho Dương Mạnh D). C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, lai lịch, đặc điểm của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8.5] Đối với nam thanh niên không quen biết bán ma túy cho Trần Văn C ở khu phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh tối ngày 10/6/2024 (số ma túy sau khi mua được của người này, C cất giấu tại nhà ở khu phố X, phường Đ, thành phố T, Bắc Ninh sau đó bị lực lượng Công an thu giữ trong quá trình khám xét). C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, lai lịch, đặc điểm của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8.6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tối ngày 10/6/2024 tại nhà của Trần Văn C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” đối với Trần Văn C là đúng quy định pháp luật.

[8.7] Đối với chị Nguyễn Thị B1 là vợ của C, chị B1 không biết C tàng trữ ma túy trong nhà và bán ma túy, toàn bộ đồ vật lực lượng Công an khám xét, thu giữ là của C nên Cơ quan điều tra không xử lý mà giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.

[8.8] Đối với bà Ngô Thị K1, sinh năm 1934, trú tại: Số nhà A, khu phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là chủ phòng trọ mà T1 thuê ở, bà K1 không biết việc T1 và D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng trọ nên Cơ quan điều tra không xử lý mà nhắc nhở là phù hợp.

[9] Về án phí: Các bị cáo Dương Mạnh D, Lò Văn T1 và Trần Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố:

Các bị cáo Dương Mạnh D và Lò Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1 Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Dương Mạnh D 42 ( Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024.

2.2 Áp dụng: Điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s

10

khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn C 11 ( Mười một) năm 06 ( S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo Dương Mạnh D, Lò Văn T1 và Trần Văn C mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 phong bì thư được niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định đã được Phòng K2 Công an tỉnh B niêm phong ( Mặt trước phong bì có chữ: “ 01 phong bì thư được niêm phong trên mặt phong bì thư có ghi : Cơ quan CSĐT-CATP Từ Sơn, Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Sử dụng trái phép chất ma túy...")
  • + 01 phong bì thư được niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định đã được Phòng K2 Công an tỉnh B niêm phong ( Mặt trước phong bì có chữ: “: Cơ quan CSĐT-CATP Từ Sơn, Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Trần Văn C, sinh năm: 1980...")
  • + 02 (hai) bật lửa gas màu đỏ; 01 (một) chai nước trên nắp có gắn 02 ống hút màu xanh; 01 (một) đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu cam; 01 (một) đoạn ngắn ống hút bằng nhựa màu xanh; 02 (hai) cân tiểu ly màu bạc; 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) kéo bằng kim loại có chuôi màu đỏ; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu cam; 03 (ba) ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu hồng; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu xanh nước biển.

3.2 Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Dương Mạnh D, Lò Văn T1 và Trần Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định /.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP. Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS TP. Từ Sơn;
  • - Công an TP. Từ Sơn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - CQTHAHS CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 266/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Mạnh D Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger