Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 266/2023/HS - ST

Ngày 18-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng

Ông Nguyễn Văn Vĩ

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên

Ngày 18-12-2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 243/2023/TLST - HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thái T, sinh ngày 08/3/1988 tại: Thái Nguyên; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm S, xã Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Trần Văn H (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị N (đã chết); Vợ: Vũ Thị H1 – có 01 con lớn sinh năm 2017. Tiền sự: Ngày 25/4/2023, Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác với số tiền 1.500.000đ. Tiền án: Không; Tạm giữ từ ngày 06/6/2023 đến ngày 09/6/2023, tạm giam: từ ngày 09/6/2023 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

2. Người bị hại: Chị Vũ Thị H1 – sinh 1995; Nơi thường trú: Xóm S, xã Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn với chồng là Trần Thái T, sinh năm 1988, trú tại xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên nên chị Vũ Thị H1, sinh năm 1995, trú tại xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên và con gái là cháu Trần Vũ Gia H2 (sinh năm 2017) bỏ về quê ngoại tại huyện S. Tại đây, chị H1 thuê trọ ở thôn Đ, xã P, huyện S.

Khoảng 17 giờ 00 ngày 5/6/2023, T đi từ Thái Nguyên đến nhà ông Trần Văn T1, sinh năm 1967, trú tại thôn Đ, P, S, Hà Nội (là cậu của chị H1) để tìm vợ, con. Tại nhà ông T1, ông T1 yêu cầu T gọi người lớn của gia đình T xuống nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng T. Sau đó, T gọi chú ruột là ông Trần Đức H3, sinh năm 1964, trú tại xóm S, Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xuống nói chuyện. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, ông H3 đến nhà ông T1 để nói chuyện. Khoảng 20 phút sau thì chị H1 bế con đi đến nhà ông T1. Lúc này, T nói chuyện với vợ và khuyên vợ cho con về và quay lại với T nhưng chị H1 không đồng ý. Sau đó, hai bên xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, T chạy vào sân giếng nhà ông T1 lấy 01 con dao, cầm dao trên tay phải đuổi theo chị H1, chị H1 bỏ chạy đến ngoài cổng nhà ông T1 thì T đuổi kịp và cầm dao đâm vào người chị H1 khoảng 5-6 lần, trúng vùng lưng, khuỷ tay của chị H1 gây thương tích làm chị H1 ngã xuống đất; T dừng lại không đâm nữa. Ông Lê Xuân K (sinh năm 1969) và anh Trần Anh T2 (sinh năm 1991) cùng trú tại thôn Đ, xã P, huyện S lao vào can ngăn, anh T2 tước được dao T đang cầm trên tay, khống chế bắt giữ T đưa đến Công an xã P để trình báo sự việc. Sau đó, chị H1 được đưa đi cấp cứu.

Kết luận giám định số 1453 ngày 10/10/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y đối với thương tích của chị Vũ Thị H1:

  • + Sẹo vết thương vùng vú phải: 01%.
  • + Sẹo vết thương mạn sườn trái: 01%
  • + Sẹo vết thương vùng lưng phải: 01%
  • + Sẹo vết thương hố thắt lưng phải: 01%
  • + Sẹo vết thương mặt trước khuỷu tay phải: 01%
  • + 02 sẹo vết thương, vết mổ mặt sau khuỷu tay phải: 5,91%
  • + Tổn thương thần kinh cơ bì đã khâu nối: 11%
  • + 02 sẹo vết thương vùng đùi trái: 1,99%

Tổng phần trăm tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Vũ Thị H1 là: 22% (Hai mươi hai phần trăm).

* Đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 con dao, dạng dao bầu dài 24cm, bản dao rộng nhất đo được là 4cm, dao có đầu nhọn, chuôi bằng kim loại; Thu giữ của chị Vũ Thị H1 01 áo phông cộc tay, màu trắng có hoa văn ở mặt trước ngực và sau lưng. Áo dính nhiều chất màu nâu và nhiều vết thủng rách. Đây là chiếc áo chị H1 mặc khi bị Thương dùng dao gây thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: chị Vũ Thị H1 không yêu cầu bị can T bồi thường.

Quá trình điều tra, bị can Trần Thái T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 231/CT -VKS ngày 01/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đề nghị truy tố Trần Thái T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng:

  • * Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Thái T từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
  • - Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  • - Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao, dạng dao bầu dài 24cm, bản dao rộng nhất đo được là 4cm, dao có đầu nhọn, chuôi bằng kim loại; 01 áo phông cộc tay, màu trắng có hoa văn ở mặt trước ngực và sau lưng thu giữ của chị H1.
  • * Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện S; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với sự vắng mặt của chị H1 tại phiên tòa hôm nay. Xét quá trình điều tra, chị H1 đã có lời khai đầy đủ có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của chị H1 không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án. Do đo, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt chị H1.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T khai nhận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 05/6/2023, tại thôn Đ, xã P, huyện S, Hà Nội. Do mâu thuẫn vợ chồng, Trần Thái T dùng hung khí nguy hiểm (01 con dao bầu dài 24cm, bản rộng nhất là 4cm, đầu dao nhọn) đâm chị Vũ Thị H1 (vợ T) gây thương tích làm chị H1 bị tổn hại 22% sức khỏe. Bị cáo và người bị hại đều không có ý kiến gì về kết luận giám định. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Trần Thái T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích quy định

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tình tiết tăng nặng: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo Trần Thái T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thái T phạm tội thành khẩn khai báo về hành vi của mình gây ra nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng tặng thưởng nhiều huân huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về phần dân sự: người bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác và làm mất an ninh, trật tự tại địa phương. Nguyên nhân bị cáo phạm tội là vì tức giận hành vi của bị hại không quay lại chung sống với bị cáo. Động cơ, mục đích là nhằm thỏa mãn cơn tức giận. Điều đáng nói trong vụ án này thì bị cáo và bị hại là hai vợ chồng. Bị cáo đã có hành xử thiếu văn minh, dùng lời bạo lực để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Lẽ ra bị cáo phải biết yêu thương vợ con nhưng bị cáo lại cố ý gây thương tích cho vợ mình. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức; xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo cần phải hiểu, tính mạng, sức khỏe của con người là vô giá, không vì tức giận mà bị cáo lại dùng vũ lực với với chính vợ của mình. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao, dạng dao bầu dài 24cm, bản dao rộng nhất đo được là 4cm, dao có đầu nhọn, chuôi bằng kim loại; 01 áo phông cộc tay, màu trắng có hoa văn ở mặt trước ngực và sau lưng. Áo dính nhiều chất màu nâu và nhiều vết thủng rách (thu của chị H1).

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Trần Thái T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào:

  • - Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • - Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử Phạt: Trần Thái T 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.

2. Về phần dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao, dạng dao bầu dài 24cm, bản dao rộng nhất đo được là 4cm, dao có đầu nhọn, chuôi bằng kim loại; 01 áo phông cộc tay, màu trắng có hoa văn ở mặt trước ngực và sau lưng.

Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/12/2023 giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Án xử công khai sơ thẩm; Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan THA huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu./.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2023/HS - ST ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 266/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 05/6/2023, tại thôn Đ xã P, huyện S, Hà Nội. Do mâu thuẫn vợ chồng, Trần Thái T dùng hung khí nguy hiểm (01 con dao bầu dài 24cm, bản rộng nhất là 4cm, đầu dao nhọn) đâm chị Vũ Thị H (vợ T) gây thương tích làm chị H bị tổn hại 22% sức khỏe
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger