Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 266/2024/HS-PT

Ngày: 15 - 04 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám

Bà Lê Thúy Cầu

Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 14/2024/TLPT- HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Kim Thái N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

* Bị cáo có kháng cáo: Kim Thái N, sinh ngày 19/8/1999 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; con ông Kim Thanh B, sinh năm 1975 và bà Phan Thị S, sinh năm 1975; vợ tên Sơn Thị Sô Pha N1, sinh năm 1999; bị cáo có 02 người con; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/9/2022 cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Kim Thái N: Luật sư Nông Minh Đ thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

- Bị hại:

  1. Cô Thị Hồng L, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
  2. Trần Thanh H, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
  3. Dương Thanh T, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

(Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2, 26 bị hại khác, 08 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối năm 2020, bị cáo Kim Thái N, sinh ngày 19/8/1999, ngụ ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh quen biết ông Nguyễn Văn M, sinh ngày 01/01/1975, ngụ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh từ việc giới thiệu người đang cần tiền nhưng không vay ngân hàng được và mua xe mô tô mới với hình thức trả góp tại các của hàng bán xe mô tô rồi bán lại cho ông Nguyễn Văn M để lấy tiền ngay và được ông M trả tiền công mỗi chiếc xe khoảng 500.000 đồng.

Đến khoảng đầu năm 2021, bị cáo Kim Thái N cần tiều tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô của người khác bằng thủ đoạn bị cáo N đưa ra thông tin gian dối bằng cách bị cáo N tự xưng là nhân viên của Công ty B2 CREDIT với chức vụ là Phó Giám đốc, công ty chuyên cho vay tiền, tìm kiếm người có nhu cầu vay tiền của Công ty 24H CREDIT, người muốn vay tiền thì phải có tài sản thế chấp với hình thức là đến cửa hàng bán xe mô tô làm hợp đồng vay với các Công ty tài chính (tại cửa hàng bán xe) để mua xe trả góp, rồi đem giao xe cho Công ty B2 CREDIT quản lý để làm tài sản bảo đảm khoản vay thì sẽ được Công ty 24H CREDIT cho vay tiền, bị cáo N đưa ra thông tin gian dối là người vay chỉ cần trả khoản tiền đã vay của Công ty B2 CREDIT còn đối với khoản vay trả góp mua xe mô tô thì Công ty B2 CREDIT sẽ có trách nhiệm thanh toán thay cho người vay.

Ngoài ra, bị cáo còn thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô của người khác bằng cách bị cáo N tự xưng là nhân viên của Công ty 24H CREDIT tìm kiếm người đứng tên mua xe mô tô mới tại các cửa hàng bán xe với hình thức mua trả góp và giao lại cho Công ty B2 CREDIT để hưởng huê hồng và theo thỏa thuận thì Công ty B2 CREDIT sẽ thay người đứng tên mua xe thanh toán khoản vay mua xe trả góp ở các công ty tài chính.

Khi bị hại cần vay tiền thì liên hệ với bị cáo Kim Thái N, bị cáo tư vấn cho bị hại như thủ đoạn bị cáo đưa ra nêu trên. Trước khi bị hại đi mua xe mô tô trả góp thì bị cáo N gọi điện cho ông M để trao đổi việc bán xe cho ông M và ông M trả trước một khoản tiền cho bị cáo N. Khi bị hại đến cửa hàng bán xe để mua xe mô tô thì phải trả trước một khoản tiền cho cửa hàng xe từ tiền do bị cáo N đưa. Khi bị hại mua được xe mô tô rồi giao xe cho bị cáo N thì bị cáo N đưa thêm cho bị hại một khoản tiền vay hoặc tiền huê hồng (tiền bị hại trả trước cho cửa hàng xe và tiền bị hại vay đều do bị cáo N lấy từ khoản tiền do ông M đã trả trước cho bị cáo N để ông M và N chiếm đoạt số tiền nhằm hưởng số tiền chênh lệch giữa số tiền bán xe cho ông M với số tiền đã đưa cho bị hại (gồm số tiền đã bỏ ra trả trước để mua xe trả góp và tiền cho bị hại vay).

Thực tế thì bị cáo Kim Thái N không phải là nhân viên Công ty B2, Công ty B2 CREDIT cũng không có cho các bị hại trong vụ án vay tiền, sau khi bị hại mua xe thì không có Công ty tài chính nào thanh toán cho khách hàng mà khách hàng phải tự trả tiền mua xe trả góp.

Tất cả những chiếc xe bị cáo Kim Thái N chiếm đoạt của bị hại đều bán lại cho ông Nguyễn Văn M, ông M cũng là người đứng ra giao dịch mua xe và giao xe lại cho người tên P và Nguyễn Văn K, sinh ngày 20/3/1992, cư trú ấp K, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh vì trước đó P cũng thỏa thuận với ông M nếu có người cần bán xe mới mua lấy tiền ngay thì liên hệ P.

Để thực hiện hành vi như trên thì bị cáo N tìm nhiều người để phụ giúp cho bị cáo N để được hưởng tiền công, bằng cách N giới thiệu là Phó giám đốc Công ty B2 CREDIT tuyển những người này làm nhân viên cho Công ty 24H CREDIT gồm: Bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2, sinh ngày 08/10/1995, ngụ ấp K, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Kim Thị Cẩm N3, sinh năm 1996, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Lâm Tấn T1, sinh năm 1994, ngụ ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Hứa Trúc N4, sinh năm 1990, ngụ ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Trần Văn L1, sinh ngày 30/01/2001, ngụ ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Thạch Tiệp, sinh ngày 28/7/1994, ngụ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Trong đó, bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2 là người giúp cho bị cáo N tư vấn cho bị hại, tải các hợp đồng trên mạng rồi soạn thảo các hợp đồng và làm các văn bản liên quan đến Công ty B2 CREDIT và làm giả các thẻ nhân viên của Công ty B2; Còn Kim Thị Cẩm N3; Lâm Tấn T1; Hứa Trúc N4; Trần Văn L1 và Thạch T2 là người đi tìm kiếm khách hàng cho bị cáo N và giúp cho bị cáo N tư vấn cho khách hàng vay tiền.

Trong tất cả những người phụ giúp cho bị cáo N nêu trên chỉ có bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2 từ ngày 01/4/2021 trở về sau bị cáo N2 biết rõ hành vi của bị cáo N là gian dối, biết rõ bị cáo Ngọc g làm nhân viên Công ty B2 CREDIT cho bị hại vay tiền với hình thức giao xe mô tô để làm tài sản bảo đảm khoản vay nhằm mục đích chiếm đoạt xe mô tô của bị hại để bán lại cho ông Nguyễn Văn M. Còn trước ngày 01/4/2021, thì bị cáo N2 cũng tin tưởng được bị cáo Ngọc t làm nhân viên Công ty B2 CREDIT, không biết hành vi trên của bị cáo N là gian dối nhằm chiếm đoạt xe mô tô của bị hại.

Đối với Kim Thị Cẩm N3; Lâm Tấn T1; Hứa Trúc N4; Trần Văn L1 và Thạch T2 thì khi giúp tìm khách hàng cho bị cáo N, những người này không biết hành vi của bị cáo N là gian dối, không biết bị cáo N là Phó giám đốc Công ty B2 CREDIT cho bị hại vay tiền với hình thức giao xe mô tô để làm tài sản bảo đảm khoản vay nhằm mục đích chiếm đoạt xe mô tô của bị hại.

2

Với tất cả các thủ đoạn như trên, trong thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2021 bị cáo Kim Thái N đã thực hiện chiếm đoạt 33 xe mô tô của 29 bị hại tại các nơi gồm huyện C, huyện T, huyện T, thị xã D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, cụ thể như sau:

Tại huyện C, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 04 xe mô tô của 03 bị hại gồm:

  • 01 xe mô tô Honda Winner X, màu đỏ đen của ông Văn Minh H1, sinh năm 1989, ngụ: ấp V, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • 02 xe mô tô Honda Vision, màu trắng của ông Ngô Văn S1, sinh năm 1968, ngụ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • 01 xe mô tô Honda Vision của bà Ngô Phương Q, sinh năm 1999, ngụ: ấp Thủy Hòa, xã Thuận Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Tại huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 06 xe mô tô của 04 bị hại gồm:

  • 02 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Nguyễn Thị K1, sinh ngày 01/01/1989, ngụ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 Honda Vario 150, biển số: 83Z1-057.54 của ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 2000, ngụ: ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng;
  • 02 xe mô tô Honda Wave alpha của ông Trần Văn N5, sinh năm 1986, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của ông Đoàn Văn K2, sinh năm 1985, ngụ ấp An Phú, xã An Thạnh Tây, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 17 xe mô tô của 16 bị hại gồm:

  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Lâm Thị T4, sinh năm 1978, ngụ ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Winner X của ông Dương Thanh T, sinh năm 2000, ngụ khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Winner X của ông Trần Thanh H, sinh năm 2000, ngụ khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Winner X của ông Kim Văn P1, sinh năm 1990, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của ông Huỳnh Xin N6, sinh năm 1980, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị T5, sinh năm 1996, ngụ ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh;

4

  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Vương Thị L2, sinh năm 1973, ngụ ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 02 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị R, sinh năm 1980, ngụ ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Vision của bà Thạch Thị N7, sinh năm 1986, ngụ ấp S, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị Thu H2, sinh năm 1970, ngụ ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị Sa Ma T6, sinh năm 1988, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Tăng Thị Thu T7, sinh năm 1984, ngụ ấp G, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda SH Mode của bà Thạch Thị Phi N8, sinh năm 1987, ngụ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị Hoane N9, sinh năm 1984, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của ông Thạch K3, sinh năm 1984, ngụ ấp G, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Vision của bà Cô Thị Hồng L3, sinh năm 1987, ngụ ấp Cái Cối, xã Long Vĩnh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh;

Tại thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 05 xe mô tô của 05 bị hại gồm:

  • 01 xe mô tô Honda Vario 150, màu nâu đen, BS: 84M1-186.94 của ông Huỳnh Văn T8, sinh năm 1994, ngụ ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Vario 150, màu trắng đỏ đen, BS: 84B1-977.58 của ông Lư Văn S2, sinh năm 1981, ngụ ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Vario 150, màu nâu đen, BS: 84M1-186.37 của ông Lê Tấn D, sinh năm 1991, ngụ ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha, màu trắng đỏ đen, BS: 84M1-185.79 của ông Nguyễn Quyền Đ1, sinh năm 1978, ngụ ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda SH Mode, màu bạc đen, BS: 84M1-187.01 của bà Lâm Thị Thu A, sinh năm 1982, ngụ ấp Bà Nhì, xã Đôn Xuân, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

5

Tại thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda Supper Cup, màu xanh trắng, BS: 84M1-179.31 của Hứa Huỳnh Minh N2, sinh năm 1995, ngụ ấp K, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Tất cả 33 xe mô tô trên đều do bị hại mua mới tại các cửa hàng xe với hình thức mua trả góp, với tổng số tiền là: 1.175.070.000đ (Một tỷ, một trăm bảy mươi lăm triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng).

Trước khi chiếm đoạt các xe mô tô của các bị hại như trên, bị cáo N đã lần lượt đưa cho bị hại tiền để trả trước khi mua xe trả góp tổng cộng là: 290.670.000 đồng và đưa cho bị hại số tiền bị hại vay tổng cộng là: 327.500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, huyện T, huyện T, thị xã D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh đã tiến hành yêu cầu định giá tài sản đối với các xa mô tô bị chiếm đoạt trên, kết quả định giá xác định:

  • Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C kết luận giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 04 xe mô tô tại huyện C là: 151.470.000 đồng (bút lục: 136-147);
  • Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện T kết luận giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 06 xe mô tô tại huyện T là: 134.925.000 đồng (Bút lục: 964-965);
  • Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện T kết luận giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 17 xe mô tô tại huyện T như trên là: 513.200.000 đồng (bút lục: 677-680);
  • Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã D kết luận giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 05 xe mô tô tại thị xã D là: 238.500.000 đồng (Bút lục: 1360-1361);
  • Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố T kết luận giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe mô tô tại thành phố T là: 81.000.000 đồng (Bút lục: 1252-1253).

Tổng trị giá tài sản là 33 xe mô tô mà bị cáo N chiếm đoạt như trên qua định giá là: 1.119.095.000 đồng (Một tỷ, một trăm mười chín triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Tuy nhiên, bị cáo N đã đưa trước cho bị hại 618.170.000 đồng, trong đó bao gồm tiền để trả trước khi mua xe trả góp tổng cộng là: 290.670.000 đồng và đưa cho bị hại số tiền bị hại vay tổng cộng là: 327.500.000 đồng. Như vậy, trị giá tài sản mà bị cáo N chiếm đoạt của các bị hại như trên là 500.925.000đ (Năm trăm triệu, chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Ngoài ra, sau khi chiếm đoạt xe của bị hại, thì bị hại vẫn tin bị cáo N là nhân viên Công ty B2 CREDIT nên bị cáo còn lấy tư cách là nhân viên Công ty B2 thu tiền thêm của 08 bị hại, với lý do thu mà bị cáo đưa ra là đóng tiền vay cho Công ty B2, sau khi thu được tiền bị cáo N tiêu xài, nhưng do sợ bị phát hiện nên bị cáo đã đóng tiền cho công ty tài chính của bị hại vay mua xe. Trong đó: thu của bà Nguyễn thị K4 số tiền 1.682.000 đồng, bị cáo đóng 1.570.000₫ cho công ty tài chính mà bà K4 mua xe trả góp; thu của Kim Văn P1 2.000.000 đồng, bị cáo đóng 2.000.000đ cho công ty tài chính mà ông P1 mua xe trả góp; thu của Thạch Thị Thu H2 980.000đ, bị cáo đóng 980.000 đồng cho công ty T9 mà bà H2 mua xe trả góp; thu của Tăng Thị Thu T7 1.305.000 đồng, bị cáo không có đóng tiền cho công ty T9; thu của Thạch Thị Sa Ma T6 1.335.000đ, bị cáo đóng 1.335.000đ cho công ty T9 mà bà Sa Ma T6 mua xe trả góp; thu của Thạch Thị N7 912.000đ, bị cáo đóng 912.000 đồng cho công ty T9 mà bà N7 mua xe trả góp; thu của Thạch Thị Hoane N9 1.450.000đ, bị cáo đóng 1.450.000 đồng cho công ty T9 mà bà Hoene N10 mua xe trả góp; thu của Huỳnh X Nuôi 1.610.000đ, bị cáo đóng 1.600.000₫ cho công ty tài chính mà ông N6 mua xe trả góp. Số tiền còn lại bị cáo N tiêu xài hết. Như vậy, bị cáo Kim Thái N đã thu thêm tiền của 08 bị hại với tổng số tiền là 11.274.000đ, bị cáo đã đóng tiền cho bị hại vào các công ty mà bị hại mua xe trả góp số tiền 9.847.000đ, còn lại 1.427.000₫ (một triệu, bốn trăm hai mươi bảy nghìn đồng) bị cáo chiếm đoạt tiêu xài hết.

6

Như vậy, trong vụ án bị cáo Kim Thái N đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 29 bị hại nêu trên có giá trị tài sản chiếm đoạt là 502.352.000đ (năm trăm lẻ hai triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Đối với bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2 đã có hành vi giúp sức cho bị cáo N tư vấn cho bị hại, bị cáo N2 làm theo lời của bị cáo N để tải các hợp đồng trên mạng rồi soạn thảo thành các hợp đồng giả và làm các văn bản giả ghi thông tin liên quan đến Công ty B2 CREDIT và làm giả các thẻ nhân viên của Công ty 24H CREDIT nhằm để bị cáo N có thể thực hiện trót lọt hành vi phạm tội như đã nêu trên. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2021 đến tháng 05/2021 bị cáo N2 đã biết rõ hành vi gian dối của bị cáo N nhưng đã giúp sức cho bị cáo N chiếm đoạt 20 xe mô tô của 16 bị hại trong tổng số 33 xe mô tô mà bị cáo N chiếm đoạt như trên gồm:

Tại huyện C, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 03 xe mô tô của 02 bị hại gồm:

  • 02 xe mô tô Honda Vision, màu trắng của ông Ngô Văn S1, sinh năm 1968, ngụ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Vision của bà Ngô Phương Q, sinh năm 1999, ngụ: ấp Thủy Hòa, xã Thuận Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Tại huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 04 xe mô tô của 02 bị hại gồm:

  • 02 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Nguyễn Thị K1, sinh ngày 01/01/1989, ngụ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 02 xe mô tô Honda Wave alpha của ông Trần Văn N5, sinh năm 1986, ngụ ấp Te Te 1, xã Tân Hùng, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh;

7

Tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 11 xe mô tô của 10 bị hại gồm:

  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của ông Huỳnh Xin N6, sinh năm 1980, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị T5, sinh năm 1996, ngụ ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Vương Thị L2, sinh năm 1973, ngụ ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 02 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị R, sinh năm 1980, ngụ ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Vision của bà Thạch Thị N7, sinh năm 1986, ngụ ấp S, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị Thu H2, sinh năm 1970, ngụ ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Thạch Thị Sa Ma T6, sinh năm 1988, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha của bà Tăng Thị Thu T7, sinh năm 1984, ngụ ấp G, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda SH Mode của bà Thạch Thị Phi N8, sinh năm 1987, ngụ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Vision của bà Cô Thị Hồng L3, sinh năm 1987, ngụ ấp Cái Cối, xã Long Vĩnh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh;

Tại thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh: chiếm đoạt 02 xe mô tô của 02 bị hại gồm:

  • 01 xe mô tô Honda Vario 150, màu nâu đen, BS: 84M1-186.37 của ông Lê Tấn D, sinh năm 1991, ngụ ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  • 01 xe mô tô Honda Wave alpha, màu trắng đỏ đen, BS: 84M1-185.79 của ông Nguyễn Quyền Đ1, sinh năm 1978, ngụ ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh;

Riêng 01 xe mô tô xảy ra ở huyện T thì bị cáo N2 đồng ý đứng tên mua xe cho bị cáo N để bị cáo N có xe mô tô để bán lấy tiền là thỏa thuận trong giao dịch dân sự, nên không xem xét.

Tổng trị giá tài sản là 20 xe mô tô mà bị cáo N2 đã giúp sức cho bị cáo N chiếm đoạt như trên qua định giá là: 560.260.000 đồng. Trong tổng số 20 xe mô tô này thì trước khi chiếm đoạt, bị cáo N đã đưa cho bị hại tiền để trả trước khi mua xe trả góp tổng cộng là: 104.000.000 đồng và đưa cho bị hại số tiền bị hại vay tổng cộng là: 185.000.000 đồng.

8

Như vậy tổng số tiền mà bị cáo N2 đã giúp sức cùng bị cáo N chiếm đoạt 20 xe mô tô của các bị hại như trên sau khi trừ ra số tiền đã đưa cho bị hại là 271.260.000₫ (Hai trăm bảy mươi mốt triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Sau khi bị cáo N chiếm đoạt 33 xe mô tô của bị hại thì bán lại cho ông Nguyễn Văn M với tổng số tiền là 709.000.000 đồng, trừ đi số tiền mà bị cáo đã đưa cho bị hại trả trước khi mua xe trả góp và số tiền đưa cho bị hại vay là 609.203.000 đồng (trong đó do có 01 xe của Trần Thanh H bị cáo đã đưa cho bị hại tổng cộng 29.000.000 đồng khi mua xe, sau khi chiếm đoạt xe đã bán xe 23.000.000 đồng, bị cáo tự bỏ ra 6.000.000 đồng của bị cáo để có được xe, do đó xe mô tô này bị cáo không hưởng chênh lệch từ việc bán xe). Qua đó, bị cáo Kim Thái N đã thu được số tiền 105.797.000 đồng. Đối với số tiền này bị cáo N hưởng một phần đã chia cho những người giúp cho bị cáo, nhưng khi trong quá trình chiếm đoạt xe bị cáo N còn bỏ ra thêm 1.000.000 đồng đối với xe mô tô của Trần Thanh H để cho Lâm Tấn T1, như vậy tổng số tiền bị cáo N đã chia là 106.797.000 đồng. Cụ thể bị cáo Kim Thái N hưởng số tiền: 76.647.000 đồng, còn số tiền 30.150.000đ chia cho những người khác gồm: bị cáo N2 số tiền 3.300.000 đồng, Kim Thị Cẩm N3 số tiền 13.700.000 đồng; Lâm Tấn T1 số tiền 9.000.000 đồng, Hứa Trúc N4 số tiền 1.000.000 đồng, Trần Văn L1 số tiền 650.000 đồng và Thạch T2 số tiền 2.500.000 đồng.

Ngày 17/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trưng cầu Phòng K5 Công an tỉnh T giám định chữ viết và chữ ký của bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2 và bị cáo Kim Thái N.

Tại bản kết luận giám định số 562/KL-KTHS ngày 27/10//2022 của phòng K5 Công an tỉnh T (Bút lục: 189-208) kết luận:

  1. Chữ viết trên các biên bản xác nhận nợ và hợp đồng vay kim lịch thanh toán (ký hiệu A1, A2, A3...A6) so với chữ viết của Hứa Huỳnh Minh N2 trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M3, M4) do cùng một người viết ra.
  2. Chữ ký mang tên Huỳnh Tiến S3 trên các biên bản xác nhận nợ ngày 23/4/2021(ký hiệu A2); ngày 25/4/2021 (ký hiệu A3) so với chữ ký của Hứa Huỳnh Minh N2 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M3) do cùng một người ký ra.
  3. Chữ ký, chữ viết Lâm Thị Trúc L4 trên hợp đồng vay kim lịch thanh toán ngày 16/5/2021 (ký hiệu A4) so với chữ viết, chữ ký của Hứa Huỳnh Minh N2 trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1. M2, M3, M4) do cùng một người ký, viết ra.
  4. Chữ ký mang tên Huỳnh Tiến S3 trên biên bản xác nhận nợ ngày 16/5//2021 (ký hiệu A1) so với chữ ký của Kim Thái N trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M6) do cùng một người ký ra.

9

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Kim Thái N, bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. 2. Về hình phạt
    • - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Kim Thái N 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2022.
    • - Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Hứa Huỳnh Minh N2 07 (B1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 12/12/2023, bị cáo Kim Thái N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Những người bị hại Cô Thị Hồng L3, Dương Thanh T, Trần Thanh H vắng mặt tại phiên tòa.

Bị cáo Kim Thái N vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, và cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi lừa đảo đối với bà Cô Thị Hồng L3, bị hại Dương Thanh T, Trần Thanh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Thủ đoạt mà bị cáo chiếm đoạt tài sản của các bị hại Cô Thị Hồng L3, Dương Thanh T, Trần Thanh H cũng tương tự với các vụ chiếm đoạt tài sản khác mà bị cáo thực hiện. Trong vụ án này, bị cáo giữ vai trò khởi xướng, chủ mưu, cầm đầu, chỉ đạo hành vi của các đối tượng khác. Lời khai của người bị hại phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định bị cáo đã chiếm đoạt 33 xe máy, trong đó có 03 chiếc xe của 03 bị hại. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo N chiếm đoạt của các bị hại như trên là 502.352.000đ (Năm trăm lẻ hai triệu, ba tram năm mươi hai nghìn đồng). Bị cáo phạm tội nhiều lần, có tính chất chuyên nghiệp nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không có được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

10

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đối với chiếc xe máy của bà Cô Thị Hồng L3, bị cáo không có hành vi chiếm đoạt vì giữa bị cáo với bà L3 có quan hệ họ hàng, bị cáo không tiếp xúc với bà L3, không nhận tiền, không được chia tiền từ việc bán chiếc xe máy này. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền bị cáo bị quy kết chiếm đoạt, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Kim Thái N làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Các bị hại Cô Thị Hồng L3, Dương Thanh T, Trần Thanh H đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã làm rõ lời khai của những người này và việc vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án nên đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa yêu cầu tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Kim Thái N:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Kim Thái N thừa nhận đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt đối với 30 chiếc xe máy, còn đối với 03 chiếc xe máy của các bị hại Cô Thị Hồng L3, Trần Thành H3 và Dương Thanh T, bị cáo cho rằng bị cáo không chiếm đoạt đối với 03 chiếc xe của những bị hại này.

Tuy nhiên, căn cứ vào các lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 13/3/2023, bị cáo N khai “Qua đối chiếu cơ quan điều tra bị can xác định bị can đã chiếm đoạt tổng cộng 33 xe mô tô tại huyện C, huyện T, huyện T, thị xã D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, qua định giá xác định giá trị 33 xe mô tô là 1.119.095.000 đồng...” (BL 1747); Tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 24/7/2023, bị cáo N khai “Sau khi chiếm đoạt bị can đã bán 33 xe cho ông Nguyễn Văn M được 709.000.000 đồng, bị can hưởng tiền chênh lệch 105.797.000 đồng” (BL 1750); Tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 13/3/2023, bị cáo N khai “……… - Địa bàn huyện T: 18 xe mô tô, gồm: 01 xe mô tô của Dương Thanh T, 01 xe mô tô của Trần Thanh H, 01 xe mô tô của Cô Thị Hồng L3;” (BL 1724-1725, có sự tham gia của người bào chữa cho bị cáo Kim Thái N); Tại Biên bản hỏi cung ngày 08/9/2023, bị cáo Kim Thái N khai “………bị can đã thực hiện gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại là 33 xe rồi bán lại lấy tiền chênh lệch vào năm 2021 tại huyện C, huyện T, huyện T, thị xã D, thành phố T,...”, “Bị can xin trình bày tất cả những gì bị can khai báo là do bị can tự nguyện, khai đúng sự thật vụ việc, đúng hành vi phạm tội bị can thực hiện. Không có ai hướng dẫn, dụ dỗ ép buộc, đánh đập buộc bị can phải khai nhận” (BL 2184-2185).

11

Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra những người bị hại Cô Thị Hồng L3 (BL 1636), Dương Thanh T (BL 1645-1647), Trần Thanh H (BL 1653-1654) đều có lời khai tố cáo bị đường dây lừa đảo mà Kim Thái N là người cầm đầu dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản.

Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra ban đầu phù hợp với lời khai của các bị hại, của bị cáo khác và các đối tượng có liên quan trong vụ án, có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Kim Thái N đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn đưa thông tin gian dối bị cáo N là nhân viên của Công ty B2 CREDIT với chức vụ là Phó Giám đốc, công ty chuyên cho vay tiền, tìm kiếm người có nhu cầu vay tiền của Công ty 24H CREDIT, người muốn vay tiền thì phải có tài sản thế chấp với hình thức là đến cửa hàng bán xe mô tô làm hợp đồng vay với các Công ty tài chính để mua xe trả góp rồi giao xe cho Công ty B2 CREDIT quản lý để làm tài sản bảo đảm khoản vay thì sẽ được Công ty B2 CREDIT cho vay tiền; đồng thời bị cáo Kim Thái N đưa ra thông tin gian dối là người vay chỉ cần trả khoản tiền đã vay của Công ty B2 CREDIT, còn đối với khoản vay trả góp mua xe mô tô thì Công ty B2 CREDIT sẽ có trách nhiệm thanh toán thay cho người vay. Ngoài ra, bị cáo Ngọc g làm nhân viên của Công ty 24H CREDIT tìm kiếm người đứng tên mua xe mô tô mới tại các cửa hàng bán xe với hình thức mua trả góp và giao lại cho Công ty B2 CREDIT để hưởng hoa hồng và theo thỏa thuận thì Công ty B2 CREDIT sẽ thay người đứng tên mua xe thanh toán khoản vay mua xe trả góp ở các công ty tài chính; bị cáo còn thu tiền của bị hại với lý do bị cáo đưa ra là đóng tiền vay cho công ty B2. Để thực hiện hành vi như trên, thuận lợi trong việc thực hiện hành vi chiếm đoạt thì bị cáo N tìm nhiều người để phụ giúp cho bị cáo N để được hưởng tiền công, bằng cách Ngọc tự giới thiệu là Phó giám đốc Công ty B2 CREDIT tuyển những người này làm nhân viên cho Công ty B2 CREDIT để giúp N tìm kiếm, tư vấn cho khách hàng, dẫn đến bị cáo Huỳnh Minh N2 trở thành người giúp sức cho bị cáo chiếm đoạt tài sản trong vụ án.

Thực tế thì bị cáo Kim Thái N không phải là nhân viên Công ty B2, Công ty B2 CREDIT cũng không có cho các bị hại trong vụ án vay tiền, sau khi bị hại mua xe thì không có Công ty tài chính nào thanh toán cho khách hàng mà khách hàng phải tự trả tiền mua xe trả góp. Đối với ba chiếc xe máy của các bị hại Cô Thị Hồng L3, Dương Thanh T, Trần Thanh H đều bị chiếm đoạt theo cách thức tương tự như với các bị hại khác trong vụ án qua việc liên hệ vay tiền từ Công ty B2 CREDIT.

12

Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của số lượng lớn các bị hại trong khoảng thời gian ngắn nên đã ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Kim Thái N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Kim Thái N có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự gồm: phạm tội 02 lần trở lên, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo quy định tại các điểm b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo Kim Thái N chưa có tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động nhờ cha ruột bồi thường cho bị hại Ngô Văn S1 được 20.000.000 đồng; có ông nội Kim Văn G và ông ngoại Phan Văn N11 đều là thương binh là người có công với cách mạng; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con còn nhỏ; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo 12 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận.

[3] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[4] Quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Kim Thái N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kim Thái N.

13

  1. 2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh như sau:

    Tuyên bố bị cáo Kim Thái N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm b, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

    Xử phạt bị cáo Kim Thái N 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2022.

  2. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. 4. Bị cáo Kim Thái N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Công an tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Trại tạm giam tỉnh Trà Vinh;
  • - Trại tạm giam tỉnh Trà Vinh;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 17b ĐLN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 266/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kim Thái N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger