Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND Q HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2023/HS-ST

Ngày: 05/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Phương Liên, ông Trần Ngọc Thịnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Lương Đình Quý

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 01 xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 244/2023/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên : Lò Văn TGiới tính: Nam Sinh năm: 1991

Tên gọi khác : không

HKTT: Bản Sảo, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

Nơi ở: 39 Quang Trung, phường Quang Trung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Quốc tịch : Việt Nam Dân tộc : Thái Tôn giáo : Không

Nghề nghiệp : Không Trình độ học vấn : 0/12

Họ tên cha : Lò Văn T1- Sinh năm : 1970

Họ tên Mẹ : Lò Thị S- Sinh năm : 1970

Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ hai

TATS: Không

Tạm giữ : 30/5/2023 Tạm giam: 06/6/2023Số giam : 2638C2/19

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên : Lò Văn HGiới tính : Nam Sinh năm: 1990

Tên gọi khác : không

HKTT: Bản Cản, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

Nơi ở: 39 Quang Trung, phường Quang Trung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Quốc tịch : Việt Nam Dân tộc : Thái Tôn giáo : Không

Nghề nghiệp : Không Trình độ học vấn : 0/12

Họ tên cha : Lò Văn D- Sinh năm: 1956

Họ tên Mẹ : Lò Thị K- Sinh năm : 1962

Gia đình có 04 anh chị em, bị can là con thứ tư

TATS: 01 tiền sự đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng – ngoài thời hiệu

Tạm giữ : 30/5/2023 Tạm giam: 06/6/2023Số giam : 2639C2/24

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người bào chữa cho bị cáo T, H : Bà Lưu Thùy L- Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 30/5/2023, tổ công tác Công an phường T phát hiện 01 nhóm thợ làm việc tại công trình xây dựng C Q, phường Q, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra có 07 đối tượng gồm Lò Văn T, Lò Văn H, Lò Văn T2 (sinh năm : 2005 ; HKTT: Bản Chấng, Q, T, Điện Biên), Lường Thành V (sinh năm : 1983 ; HKTT: Mường É, T, Sơn La), Đặng Văn H1 (sinh năm: 1988 ; HKTT : khu G xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ), Hà Tiến C (sinh năm : 1985 ; HKTT : khu G xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ), Lò Văn T3 (sinh năm: 2001; HKTT: Bản Móm, Q, T, Điện Biên); trong đó Lò Văn T đang ngồi chia nhỏ chất bột màu trắng, trước mặt T có 01 tờ giấy kích thước 7x8 cm và 06 tờ giấy kích thước 4x4 cm bên trên có nhiều cục bột màu trắng kích thước khác nhau. Tại chỗ, T thừa nhận chất bột màu trắng là ma túy Heroine đang chia nhỏ ra để bán cho các đối tượng Lò Văn T2, Lưởng Thành V1, Lò Văn T3, Hà Tiến C, đồng thời giao nộp trong túi quần phía trước bên trái ra 02 gói chất bột màu trắng khai nhận là ma túy. Tại chỗ, H khai nguồn gốc số ma túy là do H giúp T mua về để bán. Tổ công tác tiến hành niêm phong tang vật, đưa H, T và các đối tượng liên quan về trụ sở công an phường T giải quyết.

Thu giữ của Lường Thành V: 02 tờ giấy bạc có kích thước 6x2 cm và 4x2 cm; Thu giữ của Lò Văn T: 01 tờ giấy kích thước 7x8 cm bên trên chứa các cục bột màu trắng kích thước to nhỏ khác nhau (thu giữ tại mặt phản trước mặt T); 06 tờ giấy có kích thước 4x4 cm; 02 gói giấy màu trắng bên trong chứa cục bột màu trắng (thu giữ trong tủi quần phía trước của T), 01 điện thoại di động Oppo màu xanh kèm sim số 0962152615; Thu giữ của Lò Văn H 01 điện thoại di động oppo màu vàng kèm sim số 0395687390, 03 bơm kim tiêm loại 3 ml đã qua sử dụng.

Xét nghiệm ma túy : Lò Văn T, Lò Văn H, Lò Văn T2, Lường Thành V, Đặng Văn H1, Hà Tiến C, Lò Văn T3 dương tính với ma túy Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 3507/KLGĐ-PC09 ngày 06/6/2023 của Phòng K3 - CATP. Hà Nội kết luận: Tang vật thu giữ của Lò Văn T, các cục chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu trắng và 01 tờ giấy đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,621 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn T khai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, H, T2, C, T3, V nhờ T mua ma túy nên T liên hệ với một người đàn ông (không rõ lai lịch, số điện thoại : 0393.479.xxx) hỏi mua 800.000 đồng ma túy loại Heroine, hẹn giao dịch tại hồ T. T đã nhờ Đặng Văn H1 (sinh năm : 1988, HKTT : khu G xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ; chủ thầu xây dựng) ứng 800.000 đồng tiền lương (không nói nhằm mục đích gì), chuyển khoản vào tài khoản của chị Lò Thị T4 (sinh năm : 1994 ; HKTT : 39 Q, phường T, quận H, Hà Nội ; vợ của T). Sau đó, T đưa thẻ ngân hàng của vợ T cho Lò Văn H để rút tiền đi mua ma túy như đã thỏa thuận. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, H mua ma túy về 39 Lý Thường K1 đưa cho T; khi T đang ngồi chia ma túy để bán cho Lò Văn H, Lò Văn T2, Lường Thành V, Hà Tiến C, Lò Văn T3 thì bị bắt quả tang như nêu trên. T khai đây là lần đầu tiên bán ma túy, T được hưởng lợi là sẽ chia phần của bản thân nhiều hơn để sử dụng.

Lò Văn H khai : Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 30/5/2023, Lò Văn T đưa thẻ ngân hàng cho H đi rút 800.000 đồng tiền mặt để mua ma túy Heroine tại hồ T. Sau khi rút tiền, H đi ra khu vực hồ T mua 800.000 đồng ma túy Heroine của 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, tại thời điểm giao dịch người này đội mũ, đeo khẩu trang). Sau khi mua ma túy, H mang về C Q đưa cho Lò Văn T, khi T ngồi chia nhỏ túi ma túy ra để bán cho các đối tượng thì bị bắt giữ như nêu trên, đây là lần đầu H giúp T mua ma túy để bán và được hưởng lợi sẽ được chia phần nhiều hơn.

Lò Văn T2, Lường Thành V, Lò Văn T3, Hà Tiến Công k phù hợp với lời khai của Lò Văn T, Lò Văn H. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra, bắt giữ các đối tượng đang đợi T chia ma túy để bán cho các đối tượng (các đối tượng chưa kịp nhận ma túy), ban đầu các đối tượng khai nhiều lần mua ma túy của Lò Văn T nhưng sau đó thay đổi lời khai: đây là lần đầu mua ma túy của T. Số tiền mua ma túy sẽ trừ vào lương của các đối tượng khi đến kì lĩnh lương và trả cho T. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Lò Văn T2, Lưởng Thành V1, Lò Văn T3, Hà Tiến C nhưng các đối tượng hiện không có mặt tại nơi cư trú. Xét thấy ngoài lời khai của các đối tượng, không có căn cứ gì khác chứng minh Lò Văn T, Lò Văn H bán ma túy 02 lần trở lên. Xét thấy các đối tượng T2, V1, T3, C mua ma túy của T, H nhưng chưa nhận được ma túy, chưa trả tiền, các đối tượng xét nghiệm đều dương tính với ma túy loại Heroine nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Đặng Văn H1 khai là chủ thầu xây dựng công trình xây dựng C Q, H, Hà Nội. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, T gọi điện cho H1 để xin ứng 800.000 đồng giải quyết việc (anh H1 không biết việc gì). Anh H1 đồng ý và chuyển khoản vào tài khoản vợ của T tên Lò Thị T4 mở tại ngân hàng A. Anh H1 không biết, không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T. Qua xét nghiệm, H1 dương tính với ma túy H2, H1 khai do sử dụng ma túy tại nhà trước đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Lò Thị T4 khai phù hợp với lời khai của Lò Văn T, chị T4 không biết, không liên quan đến việc T bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với người bán ma túy cho H : T, H không biết nhân thân, lai lịch, rút list số điện thoại 0393.479.xxx : qua xác minh, chủ thuê bao là chị Nguyễn Thị H3 (sinh năm : 1976 ; HKTT : thôn E T, T, Quảng Trị). Chị H3 khai không đăng ký số điện thoại trên, không quen biết Lò Văn T, Lò Văn H nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 231/CT-VKS ngày 06/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Lò Văn T, Lò Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lò Văn T, Lò Văn H thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều xin Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt mỗi bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo trình bày:

Thứ nhất: về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Lò Văn T thường trú tại Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Lò Văn H thường trú tại Thôn B, xã Q, huyện T, Điện Biên. Đây đều là vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn theo quyết định số 861của Thủ tướng chính phủ ngày 04 tháng 06 năm 2021 phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2025. Hai bị cáo đều không có điều kiện học hành đầy đủ. Về HN để làm thuê kiếm sống, giữa vòng xoáy cám dỗ nơi đô thị, do hiểu biết về pháp luật và xã hội hạn chế, trình độ văn hóa thấp, hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo đã không đủ nhận thức để dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội.

Thứ hai: Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo

Hành vi phạm tội của các bị cáo là hình thức đồng phạm giản đơn. Hành vi mua bán ma túy đơn giản, hai bị cáo không có sự chuẩn bị hay cấu kết, bàn bạc chặt chẽ với nhau để thực hiện hành vi phạm tội. Khối lượng ma túy các bị cáo mua bán không lớn (0,621 gam).

Về mục đích của hành vi mua bán ma túy: Hai bị cáo đều là con nghiện ma túy. Việc mua ma túy về bán cho các đối tượng làm việc tại công trình xây dựng chỉ nhằm mục đích khi được hưởng lợi là sẽ được chia phần ma túy cho bản thân các bị cáo nhiều hơn để sử dụng chứ không nhằm hưởng lợi về mặt vật chất khác.

Thứ ba: Về các tình tiết giảm nhẹ TNHS:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án các bị cáo luôn thể hiện thái độ hợp tác, thành khẩn để mong sửa chữa lỗi lầm, mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật;

- Bị cáo T và bị cáo H là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn theo QĐ số 861 của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/06/2021.

- Bị cáo Lò Văn T có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo sinh ra trong một gia đình nhà nông đông con. Hiện ở quê nhà bị cáo còn có vợ và 02 con nhỏ đang tuổi ăn học là cháu Lò Tuấn P (6 tuổi) và cháu Lò Anh T5 (9 tuổi). Vợ bị cáo không có công việc ổn định, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là lần đầu bị cáo T phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt.

- Gia đình bị cáo Lò Văn H thuộc hộ nghèo, xác định này đã được nộp vào hồ sơ của vụ án. Bị cáo hiện đã li hôn với vợ và đang là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lò Chí K2 (Sinh năm 2012).

Trên cơ sở những phân tích, đánh giá trên tôi kính mong Hội đồng xét xử căn cứ Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS, quyết định cho bị cáo T và H được hưởng mức án thấp hơn mức đề nghị của VKS, cho các bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về lao động giúp đỡ gia đình, và trở thành một công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo H và T là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí. Kính đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 miễn án phí cho bị cáo.

Nói lời sau cùng, các bị cáo mong được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận do hám lợi nên khoảng 10 giờ 45 phút ngày 30/5//2023, tại trước cửa số C Q, phường Q, quận H, TP Hà Nội, các bị cáo đang thực hiện hành vi chia 0,621 gam ma túy loại heroin thành các gói nhỏ nhằm mục đích bán cho Lò Văn T2, Lường Thành V, Lò Văn T3, Hà Tiến C để hưởng lợi thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Tiền các đối tượng mua ma túy sẽ được trừ dần vào tiền lương mỗi kỳ lĩnh lương để trả cho T. Các bị cáo cũng được hưởng lợi là được chia phần ma túy nhiều hơn so với phần của các đối tượng hỏi mua ma túy.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được và Kết luận giám định của Phòng K3 - Công an thành phố H. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân của bị cáo Lò Văn T chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Lò Văn H có 01 tiền sự đã được xóa từ lâu.

[3] Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Các bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội và đường lối xử lý nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này nhưng vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Bởi vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân, hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo đều giữ vai trò thực hành.

[6] Về tang vật:

  • + Số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 điện thoại di động Oppo màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lò Văn T cho tịch thu sung công vì bị cáo sử dụng điện thoại vào việc mua bán ma túy.
  • + 01 điện thoại di động Oppo màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lò Văn H cho tịch thu sung công vì bị cáo sử dụng điện thoại vào việc mua bán ma túy.
  • + 02 sim điện thoại không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
  • + 03 bơm kim tiêm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác:

  • - Đối với các đối tượng Lò Văn T2, Lường Thành V, Lò Văn T3, Hà Tiến C, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với Đặng Văn H1, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với Lò Thị T4 không biết, không liên quan đến việc T bán trái phép chất ma túy nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với người bán ma túy cho H: T, H không biết nhân thân, lai lịch, rút list số điện thoại 0393.479.xxx: qua xác minh, chủ thuê bao là chị Nguyễn Thị H3 (sinh năm : 1976 ; HKTT : thôn E T, T, Quảng Trị). Chị H3 không đăng ký số điện thoại trên, không quen biết Lò Văn T, Lò Văn H nên HĐXX không xem xét.

[8] Các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân các bị cáo, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt, về hình phạt bổ sung và về các vấn đề khác là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

[10] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí nên các bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/5/2023.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/5/2023.

2. Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, bên trong có các gói giấy màu trắng chứa heroin tổng khối lượng 0,621 gam heroin (PC09 trích mẫu giám định 0,86 gam, còn lại 0,535 gam).
  • + Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại đã cũ, không rõ chất lượng.
  • + Tịch thu tiêu hủy 03 xi lanh (bơm tiêm) đã qua sử dụng.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu OPPO màu vàng đã cũ, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.

(Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm và được mô tả theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 16/11/2023)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo được miễn nộp 200.000 đồng án phí HSST.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKS nhân dân quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 266/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger