Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 266/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/8/2024

“V/v: Ly hôn và tranh chấp xác

       nhận cha cho con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh

Ông Phạm Công Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 428/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc “ Ly hôn, tranh chấp xác nhận cha cho con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/6/2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2024/QĐ-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh ngày 19/4/1985.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn : Anh Wang Wen C, sinh ngày 25/7/1961.

Quốc tịch: Đài Loan

Địa chỉ: Phường Khuất Xích, thành phố Tân Bắc, Đài Loan, Trung Quốc.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình B, sinh ngày 30/11/1977.

Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.

( Chị H, anh B có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Anh Wang W vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày: Trước khi đăng ký kết hôn với anh Wang Wen C, chị có thời gian lao động tại Đài Loan. Do được mọi người mai mối, giới thiệu nên chị và anh Wang Wen C có về Việt Nam để đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân tỉnh H ngày 10 tháng 3 năm 2014. Sau đó chị đến Bộ N làm thủ tục xuất cảnh thì không được và bị nghi ngờ là kết hôn giả, chị đã không sang đoàn tụ được với anh Wang Wen C. Chị sinh sống ở Việt Nam từ đó cho đến nay và cũng không liên lạc với anh Wang Wen C. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Wang Wen C.

Về con chung: Chị và anh Wang Wen C không có con chung. Trong thời gian chị ở Việt Nam, chị có quen biết và phát sinh tình cảm với anh Nguyễn Đình B. Hai bên có hai con chung là cháu Vũ Hà L, sinh ngày 26/10/2016 và cháu Nguyễn Đình Minh A, sinh ngày 10/9/2022. Do không hiểu biết pháp luật, nên khi làm giấy khai sinh cho cháu L chị đã lấy họ của chị và khai tên cha là Wang Wen C. Nay chị đã làm giám định ADN cho cháu L và cháu Minh A, tại kết quả giám định AND thể hiện cháu L, cháu Minh A có quan hệ huyết thống với anh Nguyễn Đình B. Chị đề nghị Tòa án xác định cháu L và cháu Minh A là con của chị với anh B, đồng thời xác định cháu L và cháu Minh A không phải là con của anh Wang Wen C.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Wang Wen C không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình B trình bày: Anh có quen biết và phát sinh tình cảm với chị Vũ Thị H, thời điểm đó chị H chưa ly hôn với anh Wang Wen C. Anh và chị H có 2 con chung là Vũ Hà L, sinh ngày 26/10/2016 và cháu Nguyễn Đình Minh A, sinh ngày 10/9/2022. Tại kết luận giám định ngày 13/7/2019 của Công ty cổ phần C1 và kết luận giám định ngày 21/6/2023 của Viện công nghệ A1 và phân tích di truyền xác định, anh có quan hệ huyết thống cha con với cháu L, cháu Minh A. Nay chị H có đơn đề nghị xác định cháu L, cháu Minh A là con của anh với chị H, anh đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị H và anh Wang Wen C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị H được ly hôn anh Wang Wen C. Về con chung, xác định cháu Vũ Hà L, sinh ngày 26/10/2016 và cháu Nguyễn Đình Minh A, sinh ngày 10/9/2022 là con của chị H với anh Nguyễn Đình B; cháu L và cháu Minh A không phải là con chung của chị H và anh Wang Wen C. Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Thị H có địa chỉ tại thôn Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương. Bị đơn anh Wang Wen C là người có quốc tịch Đài Loan. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H cung cấp địa chỉ của anh Wang Wen C tại phường K, thành phố T, Đài Loan (Trung Quốc). Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã ủy thác tư pháp cho Bộ tư pháp để thực hiện tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 18/3/2024 Tòa án nhận được công văn số 548/BTP-PLQT của Bộ tư pháp về việc thực hiện kết quả ủy thác tư pháp. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã không thực hiện được việc ủy thác tư pháp cho anh Wang Wen C vì địa chỉ không đầy đủ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 474 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết và thông báo các văn bản tố tụng trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương và cổng thông tin điện tử của Văn phòng K tại Đ nhưng anh Wang Wen C vẫn vắng mặt không có lý do.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H, anh B có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Wang Wen C tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân tỉnh H ngày 10 tháng 3 năm 2014, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn anh Wang Wen C về Đài Loan sinh sống, chị H ở lại Việt Nam, do chị H không sang đoàn tụ được với chồng nên hai bên đã chấm dứt liên lạc. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn với anh Wang Wen C. Xét thấy, thực tế chị H và anh Wang Wen C không chung sống cùng nhau từ năm 2014, vợ chồng không liên lạc, không còn quan tâm đến nhau. Do vậy có thể thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Wang Wen C đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

- Về con chung: Chị H xác định thời gian ở Việt Nam chị có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Đình B và sinh được 2 người con là cháu Vũ Hà L, sinh ngày 26/10/2016 và cháu Nguyễn Đình Minh A, sinh ngày 10/9/2022. Do không hiểu biết pháp luật nên chị đã làm thủ tục khai sinh cho cháu L mang họ chị và khai tên cha là Wang Wen C. Nay chị đề nghị xác định cháu L và cháu Minh A là con chung của chị với anh Nguyễn Đình B. Căn cứ kết luận xét nghiệm ADN ngày 13/7/2019 của Công ty cổ phần C1 và kết luận giám định ngày 21/6/2023 của Viện công nghệ A1 và phân tích di truyền xác định, anh Nguyễn Đình B có quan hệ huyết thống cha con với cháu L, cháu Minh A xác xuất lên đến 99,999%. Mặt khác chị H xác định giữa chị và anh Wang Wen C không có con chung. Do đó có căn cứ xác định cháu Vũ Hà L và cháu Nguyễn Đình Minh A là con của chị H với anh Nguyễn Đình B; cháu L và cháu Minh A không phải là con của anh Wang Wen C.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí, lệ phí ủy thác: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, khoản 2 Điều 88, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Wang Wen C.
  2. Về con chung: Xác định cháu Vũ Hà L, sinh ngày 26/10/2016 và cháu Nguyễn Đình Minh A, sinh ngày 10/9/2022 là con chung của chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Đình B. Cháu L và cháu Minh A không phải là con của anh Wang Wen C.
  3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0001174 ngày 10 tháng 10 năm 2023 tại chi Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí.
  4. Về lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Vũ Thị H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0001296 ngày 27 tháng 10 năm 2023. Chị H đã nộp đủ lệ phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H, anh Nguyễn Đình B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Wang Wen C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

-VKS tỉnh Hải Dương;

- Các đương sự;

- UBND tỉnh Hải Dương;

- UBND xã Đức Chính;

-Cục THADS tỉnh Hải Dương;

-Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thu Hiền

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn và tranh chấp xác nhận cha cho con

  • Số bản án: 266/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp xác nhận cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger