|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG ——————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 266/2025/LĐ-ST
Ngày: 06 - 6 - 2025
V/v: “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”.
———————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân - Phó chủ tịch Hội phụ nữ thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương;
- Ông Nguyễn Lê Vân - Phó chủ tịch Liên đoàn lao động thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 65/2025/TLST-LĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2025/QĐXXST-LĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2025/QĐST-LĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1990; thường trú: Ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH T; trụ sở: Số A, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Thanh C, chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên kiêm giám đốc, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Võ Thị N trình bày:
Nguyên trước đây bà N làm việc cho Công ty TNHH T từ tháng 01 năm 2022. Bà và Công ty có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vị trí công việc Công nhân với mức lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà hai bên ký kết.
Từ giữa đầu năm 2022, Công ty chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán bảo hiểm xã hội cho bà theo quy định, mặc dù hàng tháng vẫn trừ tiền bảo hiểm xã hội vào lương của bà, cụ thể công ty chưa thanh toán cho bà từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 8 năm 2022, sau đó bà phải nghỉ việc tại Công ty Công ty vẫn chưa giao quyết định thôi việc và chưa thanh toán bảo hiểm xã hội cho bà theo quy định.
Nhận thấy, việc Công ty không thực hiện việc thanh toán bảo hiểm xã hội theo quy định làm cho bà không được hưởng chế độ của nhà nước, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của bà. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, cụ thể: Yêu cầu Công ty TNHH T đóng tiền bảo hiểm và chốt trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 8 năm 2022 theo quy định của pháp luật.
- - Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH T không có văn bản trình bày ý kiến và không tham gia tố tụng.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Trong quá trình tố tụng đã có công văn phúc đáp cho Tòa án về quá trình đóng bảo hiểm của bà N, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, do bận công việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn chưa chấp hành pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Võ Thị N khởi kiện Công ty TNHH T yêu cầu truy đóng tiền bảo hiểm xã hội. Xét, đây là vụ án “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
2
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH T có địa chỉ trụ sở chính số A, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
[3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà N và Bảo hiểm thành phố T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn Công ty TNHH T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến coi như tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà N vào làm việc tại Công ty TNHH T từ tháng 01 năm 2012, Công ty TNHH T đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho bà N từ tháng 5 năm 2022 theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội.
Căn cứ Công văn số 357/CV-BHXH ngày 19/3/2025 của Bảo hiểm T xác định: Bà Võ Thị N, sinh ngày 01/01/1990, mã số Bảo hiểm xã hội 7413277997 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH T từ tháng 5/2022, Công ty TNHH T chưa thanh toán bảo hiểm xã hội cho bà N từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 8 năm 2022.
Bà N nghỉ việc từ tháng 9/2022 nên thời gian phải đóng bảo hiểm xã hội cho bà N phải tính đến hết tháng 8/2022. Như vậy việc Công ty TNHH T trừ lương của bà N hàng tháng nhưng không trích nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bà N và không xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà N là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động nên yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ.
Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N. Buộc Công ty TNHH T phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà N tại Bảo hiểm xã hội thành phố T từ tháng 5 năm 2022 đến hết tháng 8 năm 2022. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định pháp luật về Bảo hiểm xã hội và buộc Công ty TNHH T thực hiện thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà N theo quy định pháp luật.
[5] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH T phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 48 Bộ luật Lao động;
- Các Điều 17, 18, 19, 21, 85, 86, khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị N đối với bị đơn Công ty TNHH T về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”.
- Buộc Công ty TNHH T phải nộp các khoản bảo hiểm xã hội còn nợ từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 8 năm 2022 cho bà Võ Thị N, sinh ngày 01/01/1990, số căn cước công dân [...] mã số bảo hiểm xã hội: 7413277997 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T. Các khoản phải nộp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền và nghĩa vụ thực hiện các thủ tục để chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà N theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Công ty TNHH T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm.
Trường hợp được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Nhâm |
4
5
Bản án số 266/2025/LĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Số bản án: 266/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VTN - CT HGHT
