Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-6-2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Long
  2. Ông Nguyễn Ngọc Bích

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 447/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 481/2025/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 482/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Bích Hân, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: 171 ấp 4, xã Quê Mỹ Thạnh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Thiện Hiển-Luật sư Công ty Luật TNHH Apolo Lawyers thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Trần Ngọc Phong, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: 350 Tôn Đản, Phường 4, Quận 4, TP. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Bích Hân trình bày:

Bà tự nguyện chung sống với ông Trần Ngọc Phong từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 4. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được do không cùng quan điểm sống, ông Phong không quan tâm đến vợ con, không đi làm để phụ giúp gia đình. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông Phong nhiều lần xúc phạm đến bà và gia đình, mặc dù nhiều lần bà khuyên can nhưng ông Phong không thay đổi. Năm 2020, bà và con đã chuyển về nhà cha mẹ tại huyện Tân Trụ, tỉnh Long An ở cho đến nay. Vợ chồng đã ly thân và không còn tình cảm với nhau nên bà xin ly hôn với ông Phong để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà và ông Phong có một con chung tên Trần Gia Phúc, sinh ngày 20/6/2018. Khi ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Phong cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Bà Hân xác nhận không có.

Bị đơn ông Trần Ngọc Phong đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án số 447/TB-TLVA ngày 31/10/2024, nhưng ông Phong không có ý kiến. Tòa án đã triệu tập ông Phong đến tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất vào ngày 14/3/2025, lần thứ hai vào ngày 18/4/2025 nhưng ông Phong đều vắng mặt không có lý do nên trong hồ sơ vụ án không có ý kiến của ông Phong về yêu cầu khởi kiện của bà Hân.

Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường 4, Quận 4 thì ông Trần Ngọc Phong, sinh năm 1973, có đăng ký thường trú và đang thực tế cư trú tại địa chỉ 350 Tôn Đản, Phường 4, Quận 4.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Lê Bích Hân vắng mặt. Bị đơn ông Trần Ngọc Phong vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Thiện Hiển vắng mặt và có nộp luận cứ bảo vệ cho nguyên đơn như sau:

  • - Đối với yêu cầu ly hôn: Giữa nguyên đơn và bị đơn có nhiều mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống, dù nguyên đơn đã nhiều lần tìm cách giải quyết nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Từ tháng 7/2020 đến nay, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở.
  • - Đối với yêu cầu nuôi con: Nguyên đơn có thu nhập ổn định, hiện nay con chung đang được nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để thuận tiện trong việc đưa đón con đi học, ổn định chỗ ở và nơi học tập nên nguyên đơn yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có cơ sở.
  • - Đối với yêu cầu về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • + Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Bích Hân được ly hôn với ông Trần Ngọc Phong.
  • + Về con chung: Giao bà Lê Bích Hân trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Gia Phúc, sinh ngày 20/6/2018, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
  • + Về án phí: Bà Lê Bích Hân phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là vụ án dân sự về tranh chấp ly hôn. Bị đơn đang cư trú tại Quận 4 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Lê Bích Hân có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt (đơn đề ngày 07/5/2025). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, luật sư Võ Thiện Hiển vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (đơn đề ngày 14/5/2025). Bị đơn ông Trần Ngọc Phong vắng mặt không có lý do (vắng mặt lần thứ hai). Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hôn nhân: Bà Lê Bích Hân và ông Trần Ngọc Phong chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 4 (Trích lục kết hôn số 516/2024/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 4 cấp ngày 17/9/2024) nên hôn nhân giữa bà Hân và ông Phong là hôn nhân hợp pháp.

Bà Hân xác nhận, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được do không cùng quan điểm sống, ông Phong không quan tâm đến vợ con. Hiện nay, vợ chồng đã ly thân và không còn tình cảm với nhau nên bà xin ly hôn với ông Phong để ổn định cuộc sống.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Phong đến Tòa để tham dự phiên hòa giải đoàn tụ nhưng ông Phong vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện ông Phong không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Hân và ông Phong đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Hân yêu cầu được ly hôn với ông Phong là có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì bà Hân và ông Phong có một con chung tên Trần Gia Phúc, sinh ngày 20/6/2018 (Trích lục khai sinh số 171/TLKS-BS do Ủy ban nhân dân xã Quê Mỹ Thạnh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cấp ngày 06/7/2018). Bà Hân yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Phong cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc bà Hân yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hân không yêu cầu ông Phong cấp dưỡng nuôi con.

[5] Tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Bà Lê Bích Hân xác nhận không có. Ông Trần Ngọc Phong vắng mặt không có lời khai tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Bích Hân phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 131 của Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015;

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Bích Hân.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Bích Hân được ly hôn với ông Trần Ngọc Phong.

1.2. Về con chung: Bà Lê Bích Hân và ông Trần Ngọc Phong có một con chung tên Trần Gia Phúc, sinh ngày 20/6/2018. Giao con chung cho bà Hân trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hân không yêu cầu ông Phong cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phong có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở, nhưng ông Phong không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Bà Lê Bích Hân xác nhận không có. Ông Trần Ngọc Phong vắng mặt không có lời khai tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Bích Hân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà Hân đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006709 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4. Bà Hân đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Bà Lê Bích Hân và ông Trần Ngọc Phong có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 4;
  • - Chi cục Thi hành án Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 266/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chap nhan yc cua nguyen don
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger