Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

Bản án số: 266/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-12-2025

V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hải Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Như Huấn

Bà Phạm Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân khu vực 7 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân nhân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 208/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 25/2025/QĐ-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Vân A, sinh ngày 30-5-1985; số căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Số nhà B, đường L, phường N, tỉnh Ninh Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày 01-10-1989; số căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Số nhà B, Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn D, sinh ngày 05-5-1986, số căn cước công dân: [...]; cư trú tại: Số H, đường V, phường N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt tại phiên toà lần 2 không có lý do.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình ngày 07-10-2025 trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là chị Đỗ Vân A trình bày:

Chị và anh Trần Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 14-8-2014. Quá trình chung sống, vợ chồng sinh được 01 con chung là cháu Trần Kỳ P, sinh ngày 29-3-2013. Do bất đồng quan điểm lối sống nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2018. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân anh D không ở địa phương mà ở nơi khác. Thời điểm này chị Đỗ Vân A đã có quan hệ sinh lý với anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày 01-10-1989; nơi cư trú: Số nhà B, Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình và sinh được hai người con là Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2019, giới tính: Nam theo Giấy chứng sinh số 44 quyển số 22 ngày 08-3-2019 của Bệnh viện Phụ sản tỉnh N và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2025, giới tính: Nam theo Giấy chứng sinh số 433 quyển GCS5 ngày 15-01-2025 của Bệnh viện Phụ sản tỉnh N. Đến tháng 3-2025 chị đã làm đơn xin ly hôn với anh Trần Văn D tại Toà án nhân dân thành phố Nam Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) và đã được Toà án nhân dân thành phố Nam Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) giải quyết cho ly hôn theo Bản án số 200/2025/HNGĐST ngày 05 tháng 5 năm 2025. Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn giữa chị và anh D, cả hai bên đã không trình bày và yêu cầu giải quyết việc nuôi con đối với hai cháu Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Tuấn K.

Hiện tại do cần làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con các con nên chị Đỗ Vân A đề nghị Toà án xác định anh Nguyễn Thanh H là cha đẻ của hai con Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Tuấn K.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Vân A không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi các con cùng chị.

Về chi phí giám định: Chị Đỗ Vân A nhận nộp toàn bộ và không yêu cầu Toà án giải quyết.

2

2. Tại bản tự khai ngày 22-10-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn là anh Nguyễn Thanh H trình bày: Anh H cũng xác nhận việc anh và chị Đỗ Vân A có quan hệ tình cảm và quan hệ sinh lý với nhau từ năm 2018. Trong thời gian có quan hệ tình cảm với Vân A, anh H xác nhận chị Vân A đã mang thai và đã sinh hai con trai là Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Tuấn K. Anh H cũng xác nhận tại thời điểm anh H và chị Vân A quan hệ tình cảm và quan hệ sinh lý với nhau thì chị Vân A và chồng đã sống ly thân nhưng chưa ly hôn. Đến tháng 5-2025 chị Vân A và anh D đã được Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình) giải quyết ly hôn.

Nay chị Đỗ Vân A khởi kiện đề nghị Toà án xác định anh là cha đẻ của hai con trai có tên Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2019, giới tính: Nam và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2025, giới tính: Nam thì anh cũng nhất trí đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của chị Đỗ Vân A.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh D không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên anh D không có quan điểm để giải quyết vụ án.

4. Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình đã ra Quyết định trưng cầu giám định, kết quả như sau:

- Tại các Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số KQ 2010172125 ngày 28-10-2025 của Công ty TNHH D1 đã kết luận: “Người có mẫu ghi tên Nguyễn Thanh H cha - con với người có mẫu ghi tên Nguyễn Hải Đ với độ tin cậy là 99,9999%”.

- Tại các Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số KQ 2010172225 ngày 28-10-2025 của Công ty TNHH D1 đã kết luận: “Người có mẫu ghi tên Nguyễn Thanh H cha - con với người có mẫu ghi tên Nguyễn Tuấn K với độ tin cậy là 99,9999%".

5. Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 05-11-2025 tại Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Ninh Bình) xác nhận: Chị Đỗ Vân A hiện nay đang sinh sống cùng các con là Trần Kỳ P, sinh ngày 29-3-2013 (là con chung của chị A và anh D), Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 08-3-2019 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15-01-2025 tại số nhà B, đường L, phường N, tỉnh Ninh Bình. Cháu Đ, cháu K đến nay chưa được đăng ký khai sinh và không phải là con chung của chị với chồng cũ là anh Trần Văn D.

6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá: Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 4 Điều 28; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 88, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Xác định anh Nguyễn Thanh H là cha đẻ của hai con có tên gọi là Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 08-3-2019 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15-01-2025; Chị A và anh H có trách nhiệm đi làm thủ tục khai sinh cho hai cháu Đ và K theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Về án phí: Chị Anh được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Đỗ Vân A khởi kiện đề nghị xác định anh Nguyễn Thanh H là cha đẻ của hai con có tên Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 08-3-2019 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15-01-2025. Theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp Hôn nhân gia đình về xác nhận cha cho con chưa thành niên.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Thanh H cư trú tại số nhà B, Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình, do đó Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình đã thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28; khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 “Sửa đổi, bổ sung Điều 35” của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật dân sự 2025.

1.2. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Đỗ Vân A và bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn D vắng mặt tại phiên toà lần 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

4

[2] Về yêu cầu xác nhận cha cho con của chị Đỗ Vân A: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Chị Đỗ Thị Vân A và anh Nguyễn Thanh H có quan hệ tình cảm và quan hệ sinh lý cũng như việc chị A mang thai và sinh hai con khi giữa chị Đỗ Vân A và anh Trần Văn D vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân. Khi chị Đỗ Vân A và anh Trần Văn D ly hôn và giải quyết việc nuôi con tại Tòa nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình thì anh D vắng mặt, chị A xác định giữa chị và anh Trần Văn D chỉ có 01 con chung là cháu Trần Kỳ P, sinh ngày 29-3-2013; chị A không khai báo thông tin gì về 02 cháu Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Tuấn K. Do vậy, trong nội dung Bản án ly hôn giữa chị A và anh D Toà án chỉ giải quyết việc nuôi con chung đối với cháu Trần Kỳ P. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đỗ Vân A và anh Nguyễn Thanh H, đều xác nhận hai con Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Tuấn K là con chung của chị A và anh H, nhất trí với yêu cầu của chị A đề nghị Tòa án xác nhận anh Nguyễn Thanh H là cha đẻ của hai con Nguyễn Hải Đ, Nguyễn Tuấn K. Tại các Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số KQ 2010172125 và số KQ 2010172225 ngày 28-10-2025 của Công ty TNHH D1 đều kết luận: Người có mẫu ghi tên Nguyễn Thanh H cha - con với người có mẫu ghi tên Nguyễn Hải Đ, Nguyễn Tuấn K với độ tin cậy là 99,9999%. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 88, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Vân A.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Vân A không yêu cầu anh Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị A.

[4] Về chi phí giám định: Chị Đỗ Vân A tự nguyên nộp toàn bộ và không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết nội dung này.

[5] Về án phí: Chị Đỗ Vân A được miễn án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 88, Điều 91; Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 28; khoản 1 điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 “Sửa đổi, bổ sung Điều 35” của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự 2025;

Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xác định cha cho con của chị Đỗ Vân A.

Xác định anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày 01-10-1989; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Số nhà B, Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình là cha đẻ của hai con có tên gọi là Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2019, giới tính: Nam theo Giấy chứng sinh số 44 quyển số 22 ngày 08-3-2019 của Bệnh viện Phụ sản tỉnh N và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2025, giới tính: Nam theo Giấy chứng sinh số 433 quyển GCS5 ngày 15-01-2025 của Bệnh viện Phụ sản tỉnh N.

5

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Vân A không yêu cầu anh Nguyễn Thanh H phải cấp dưỡng nuôi con.

2. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Đỗ Vân A và anh Nguyễn Thanh H có quyền đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục khai sinh cho hai con Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Tuấn K theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Đỗ Vân A không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Trả lại cho chị Đỗ Vân A số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị A đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ngày 20-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Vân A, anh Nguyễn Thanh H, anh Trần Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 7 - Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ninh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về tranh chấp về xác định cha cho con

  • Số bản án: 266/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xác định cha cho 02 con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger