Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 266/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 6 - 2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Xuân Thường và bà Bùi Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Loan- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 417/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/6/2001;

    Nơi ĐKTT: 290B, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên hệ: S đường T, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

  2. Bị đơn: anh Trần Kim M, sinh ngày 21/6/1997;

    Nơi cư trú: xóm X, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Kim H1, sinh 1975.

    Nơi cư trú: xóm X, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn, chị Phạm Thị Ngọc H trình bày như sau:

Chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Kim M kết hôn với nhau vào ngày 30/10/2023 tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Nhưng đến thời điểm hiện tại chị H, anh M thường xuyên bất hòa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Anh M1 đã tự ý ôm con về Nghệ An sinh sống. Nay chị H, anh M1 không còn tin tưởng lẫn nhau và hôn nhân không còn hạnh phúc, ly hôn để mỗi người có cuộc sống tự do. Chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị và anh Trần Kim M được ly hôn.

Về con chung: chị H, anh M có 01 con chung là Trần Minh K, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2023. Hiện nay, con chung đang sống cùng anh M và ông nội Trần Kim H1 tại xóm X, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị H đồng ý giao quyền chăm sóc con chung cho anh M.

Về cấp dưỡng: chị H không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh M không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 15/5/2025, bị đơn, anh Trần Kim M trình bày:

Thời gian anh M làm tại việc tại Bến Tre, quen với chị Phạm Thị Ngọc H. Anh M1 và chị H tìm hiểu và tự nguyện yêu thương và chung sống với nhau và đã đi đăng ký kết hôn ngày 30/10/2023 tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2023. Sau khi kết hôn, anh M1, chị H sống chung với nhau một thời gian rất ngắn thì chị H bỏ về bên ngoại sinh sống. Tháng 3/2024 anh M1 đi xuất khẩu lao động tại Thái Lan. Tháng 8/2024 anh M1 về lại Việt Nam và làm việc tại Việt Nam. Từ khi chị H bỏ về bên ngoại sinh sống đến nay anh M1, chị H không nói chuyện, không ai quan tâm đến ai. Tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt, anh M1 đồng ý ly hôn với chị Phạm Thị Ngọc H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh M1 và chị H có 01 con chung là Trần Minh K, sinh ngày 03/10/2023. Khi con được 01 tháng thì chị H bỏ về Bến Tre. Con chung của anh M1, chị H được anh M1 và ông nội Trần Kim H1 chăm sóc, nuôi dưỡng từ lúc chị H bỏ về Bến Tre đến nay. Ly hôn anh M1 mong Tòa giao quyền nuôi con cho anh M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: anh M1 hiện nay có công việc làm ổn định, có đủ khả năng về kinh tế để nuôi dưỡng con chung, khi được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung anh M1 không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: anh M1 không yêu cầu giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trần Kim H1 có văn bản trình bày:

Ông là bố đẻ của anh Trần Kim M. Anh M1 và chị H có 01 con chung Trần Minh K, sinh ngày 03/10/2023. Con chung của anh M1, chị H được anh M1 và ông H1 chăm sóc từ khi chị H bỏ về bên ngoại sinh sống cho đến nay. Chị H hiện nay đã về Bến Tre, anh M1 đi làm công ty tại Bắc Giang. Nếu Tòa án giao cháu K cho con anh M1 chăm sóc, nuôi dưỡng, ông H1 đồng ý chăm sóc cháu K giúp anh M1 khi anh M1 đi làm.

Về chi phí nuôi dưỡng cháu K từ trước đến nay ông H1 không yêu cầu anh M1, chị H hoàn trả. Ông không có tranh chấp gì với các con, nên nghị Toà án xét xử vụ vắng mặt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng.

[1.1] Về thẩm quyền: ngày 27/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương thụ lý vụ án, bị đơn anh Trần Kim M có địa chỉ cư trú tại xóm X, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An. Ngày 22/3/2024, anh M xuất cảnh ra nước ngoài và chưa nhập cảnh, nên đã chuyển hồ sơ lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết theo thẩm quyền. Vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn, chị Phạm Thị Ngọc H đã có lời khai và các tài liệu nộp cho Tòa án, trình bày ý kiến của mình, nhưng không thể tham gia phiên tòa, nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn anh Trần Kim M: Anh M xuất cảnh ngày 22/3/3024 và nhập cảnh về Việt Nam ngày 23/8/2024. Hiện nay đang sinh sống và làm việc ở Việt Nam. Anh M1 đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc và tiếp cận công khai chứng cứ. Tuy nhiên, do công việc của công ty, đi lại khó khăn nên đã có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - ông Trần Kim H1 đã nhận được thông báo thụ lý, thông báo phiên họp và Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông H1 đã có lời khai thể hiện quan điểm giải quyết về việc liên quan đến quyền và lợi ích của ông và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2023 của Ủy ban nhân dân xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre thì quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Kim M là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H anh M sống chung với nhau một thời gian rất ngắn thì chị H bỏ về bên ngoại sinh sống. Tháng 3/2024 anh M đi xuất khẩu lao động tại Thái Lan. Tháng 8/2024 anh M về lại Việt Nam. Hiện nay chị H bỏ về Bến Tre sinh sống, anh M ở lại Nghệ An. Từ khi chị H bỏ về bên ngoại sinh sống đến nay chị H, anh M không nói chuyện, không quan tâm đến nhau.

Xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị H, anh M đã thực sự trầm trọng, mục đích xây dựng cuộc sống hạnh phúc không còn, tình cảm đời sống vợ chồng không thể kéo dài, nên cần ghi nhận sự thống nhất và thỏa thuận, xử cho chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Kim M được ly hôn.

2.2. Về con chung: chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Kim M có 01 con chung Trần Minh K, sinh ngày 03/10/2023, hiện nay cháu K đang được anh M và ông H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H đồng ý giao con chung cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và anh M cũng mong muốn được chăm sóc con chung.

Xét: sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái qui định pháp luật và đạo đức xã hội. Cháu K hiện nay đang sống cùng anh M và ông Trần Kim H1 (ông nội cháu) tại xóm X, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện nay, anh M đã về Việt Nam và có đủ các điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K, nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh M không yêu cầu, miễn xét.

Về chi phí chăm sóc cháu K: Ông H1 không yêu cầu chị Phạm Thị Ngọc H, anh Trần Kim M hoàn trả, nên không xem xét.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Phạm Thị Ngọc H, anh Trần Kim M không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: chị H, anh M thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nên các phải đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên 25%).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 104, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, 37, 38, 39; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Kim M.
  2. Về con chung: ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của các bên như sau:

    Giao con chung Trần Minh K, sinh ngày 03/10/2023 cho anh Trần Kim M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.

    Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

  3. Về cấp dưỡng và chi phí chăm sóc con chung của chị H, anh M: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

    Chị Phạm Thị Ngọc H phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí; Trả lại cho chị Phạm Thị Ngọc H số tiền 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011775 ngày 28/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

    Anh Trần Kim M phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm (anh M chưa nộp).

  6. Về quyền kháng cáo:

    - Chị Phạm Thị Ngọc H, anh Trần Kim M, ông Trần Kim H1 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS h. Thanh Chương;
  • - UBND xã Bình Phú, tp.Bến Tre;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 266/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger