Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀI NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2025/DS-ST

Ngày: 24 - 6 - 2025

“V/v Tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Xuân Thành
  2. Ông Cao Hữu Bằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Tuyết Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 24/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 445/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2025/QĐXXST-DS ngày 12/6/2025, giữa các bên đương sự:

Nguyên đơn: Vợ chồng ông Nguyễn B, sinh năm 1956; bà Huỳnh Thị B1, sinh năm 1957. Địa chỉ: F đường Đ, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn B: Bà Lê Thị N, sinh năm 1955; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định. Văn bản uỷ quyền số công chứng 000496, quyển 01/2025TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/6/2025.

Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1949; bà Đinh Thị T1, sinh năm 1955. Địa chỉ: H đường Đ, khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Bà B1, bà N, bà T1 có mặt, ông T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn vợ chồng ông B bà B1 trình bày: Thời gian trước năm 2000, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T, bà Đinh Thị T1 đầu tư đóng tàu cá đi biển nên có mượn vợ chồng ông bà 03 cây vàng, sau một thời gian làm ăn vợ chồng họ bán tàu cá có trả dần cho vợ chồng ông bà, đến năm 2012 còn nợ 18 chỉ vàng, lúc đó vợ chồng ông T bà T1 có viết giấy nợ vàng cho vợ chồng ông bà, hai bên có thỏa thuận mỗi năm ông T bà T1 phải trả 01 chỉ vàng. Sau đó bà T1 có trả cho vợ chồng ông bà mỗi năm 01 chỉ vàng, đến năm 2022 do dịch Covid-19 nên vợ chồng ông T bà T1 không trả nữa, ông bà có hỏi nợ đến năm 2024 bà T1 vẫn không trả nên vợ chồng ông bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông T bà T1 phải trả 09 chỉ vàng còn nợ.

* Bị đơn bà T1 ông T trình bày: Đúng là thời gian trước năm 2000, vợ chồng ông bà có mượn vàng của vợ chồng ông B bà B1 để đầu tư đóng tàu cá làm biển, do làm ăn không thuận lợi nên đã bán tàu trả nợ nhưng chưa trả hết nợ cho ông B, bà B1. Hiện nay vợ chồng ông bà chỉ còn nợ 05 chỉ vàng chứ không phải nợ 09 như ông B bà B1 yêu cầu. Nay vợ chồng ông bà lớn tuổi không có điều kiện nữa nên xin không trả 05 chỉ vàng còn nợ.

Đại diện VKSND thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định hiện nay vợ chồng ông T bà T1 có nợ vợ chồng ông B bà B1 09 chỉ vàng 24K. Ghi nhận sự tự nguyên của nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả 07 chỉ vàng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông T bà T1 phải liên đới trả cho nguyên đơn ông B bà B1 07 chỉ vàng 24K.

Về án phí: Ông T bà T1 là người cao tuổi nên được miễn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn B bà Huỳnh Thị B1 có đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T bà Đinh Thị T1 trả lại số vàng còn nợ. Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp đòi lại tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn vợ chồng ông T bà T1 cư trú tại khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Tại phiên tòa ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

[2] Nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đều không nhớ chính xác năm mượn vàng nhưng hai bên đều xác định trước năm 2000, vợ chồng ông T bà T1 có mượn của vợ chồng ông B bà B1 03 cây vàng (vàng 24K) để đầu tư đóng tàu làm biển, nên việc mượn vàng giữa hai bên là có thật. Sau thời gian làm biển không hiệu quả nên vợ chồng ông T bà T1 bán tàu và trả dần vàng cho ông B bà B1, đến năm 2012 vợ chồng ông T bà T1 còn nợ ông B bà B1 12 chỉ vàng, có viết giấy nợ cho vợ chồng ông B bà B1 vào ngày 26/10/2012. Hai bên có thoả thuận miệng mỗi năm ông T bà T1 trả cho ông B bà B1 01 chỉ vàng cho đến hết nợ. Theo trình bày của ông B bà B1 thì sau khi viết giấy nợ vợ chồng ông T bà T1 có thực hiện việc trả nợ cho đến năm 2021, có trả được 09 chỉ vàng, sau đó ông T bà T1 viện lý do dịch Covid-19 nên từ năm 2022 đến nay ông bà không trả nữa, mặc dù ông B bà B1 nhiều lần hỏi nợ.

[2.1] Ông T bà T1 không thừa nhận giấy nợ ngày 26/10/2012, là do ông T viết. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T1 cho rằng chữ viết trong giấy nợ ngày 26/10/2012 không phải do ông T viết và có đơn yêu cầu Toà án giám định chữ viết, chữ ký trong giấy nợ ngày 26/10/2012. Toà án nhiều lần triệu tập ông T đến Toà để làm rõ giấy nợ ngày 26/10/2012, có phải do ông viết hay không nhưng ông T không đến Toà án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, tại biên bản làm việc ngày 29/5/2025, ông T bà T1 không đồng ý cung cấp mẫu chữ viết chữ ký của ông bà để Toà án thực hiện trưng cầu giám định, do đó Toà án không có cơ sở trưng cầu giám định theo đơn yêu cầu của bà T1. Như vậy, ông T bà T1 đã từ bỏ quyền chứng minh, để chứng minh giấy nợ ngày 26/10/2012 không phải do ông T viết.

[2.2] Việc ông T bà T1 đều thừa nhận trước đó ông bà có mượn ông B bà B1 30 chỉ vàng (24k) để đầu tư đóng tàu cá làm nghề biển, sau khi bán tàu ông bà có trả dần và hiện nay chỉ còn nợ ông B bà B1 05 chỉ vàng, nhưng ông T bà T1 không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh ông bà đã trả cho ông B bà B1 được 25 chỉ vàng, hiện còn nợ 05 chỉ. Nay ông B bà B1 chỉ yêu cầu ông T bà T1 trả 09 chỉ vàng còn nợ, là ít hơn số vàng ông T bà T1 thừa nhận có mượn trước đây và ít hơn số vàng ghi trong giấy nợ ngày 26/10/2012, là có lợi cho ông T bà T1. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hiện nay ông T bà T1 còn nợ ông B bà B1 09 chỉ vàng. Tại phần tranh luận bà B1 và người đại diện theo uỷ quyền của ông B thống nhất cho ông T bà T1 02 chỉ vàng, yêu cầu ông T bà T1 trả 07 chỉ, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà B1 và người đại diện theo uỷ quyền của ông B.

Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông T bà T1 phải trả cho ông B bà B1 07 chỉ vàng (vàng 24k) là phù hợp.

[3] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Ông T bà T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 256 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 27; Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn B, bà Huỳnh Thị B1;
  2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T bà Đinh Thị T1 phải liên đới trả cho vợ chồng ông Nguyễn B bà Huỳnh Thị B1 07 (bảy) chỉ vàng (vàng 24K).

  3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T bà Đinh Thị T1 là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí.
  4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
  6. 4.1. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TX Hoài Nhơn + Tỉnh;
  • - Các bên đương sự;
  • - CC THADS TX Hoài Nhơn;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Xuân Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 266/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bé tranh chấp vay tài sản với Huỳnh Buôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger