Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 266/2024/HSST

Ngày 27 tháng 11 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Lang

Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Uyên Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngân Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 221/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/HSST-QĐ ngày 27/9/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/HSST-QĐ ngày 15/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trịnh Đình Thanh T, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh HY; Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư số F, tổ dân phố P, thị trần C, huyện N, tỉnh Q; Chỗ ở: Căn bộ B Chung cư E, phường A, thành phố TĐ, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Trương Đình N, sinh năm 1974; Họ tên mẹ: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1977; Anh, chị, em: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú

2. Họ và tên: Phan Ngọc Q, sinh năm 2000; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: tỉnh B; Nơi ĐKHKTT: Nhà số T, tổ O, khu phố F, phường PL, thành phố T, tỉnh B; Chỗ ở: Căn hộ C Chung cư W, phường T1, thành phố T, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên Trường Đại học K, Thành phố H; Họ tên cha: Phan Văn U, sinh năm 1969; Họ tên mẹ: Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1975; Anh, chị, em: Có hai anh em, bị cáo là người thứ hai trong gia đình; Chồng, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú

Những người tham gia tố tụng:

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trần Vũ M
    Nơi cư trú: CHB Chung cư G, 15 V, phường S, quận F, TP.H
  2. Người bào chữa cho các bị cáo:
    Người bào chữa cho các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q - Luật sư Vũ Anh T và Luật sư Nguyễn Xuân H, là Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Huỳnh Thanh Thi, Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các bị cáo có mặt, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Đình Thanh T (sinh năm 1998), Phan Ngọc Q (sinh năm 2000) và chị Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 1993) có mối quan hệ quen biết với nhau. Vào khoảng 9 giờ 00 ngày 19/11/2023, sau khi chị H nhận được cuộc gọi của bà Võ Thị L- mẹ của Nguyễn Hữu A (sinh năm 1997 - bạn trai chị H) báo rằng có 02 người phụ nữ đang ở nhà của A thì chị H nhờ T và Q đến nhà A tại tầng S, chung cư L - địa chỉ 215 đường NT, Phường K, quận BT, TP. H (gọi tắt là chung cư) để xem sự việc, T và Q đồng ý. Khi T, Q đến nhà của An thì thấy Trần Vũ M (sinh năm 1996) nằm trên ghế và Tô Thị Huyền Trân (sinh năm 1992) ngồi trong góc phòng thì Q cầm điện thoại quay clip lại nên T, Q, Trân, M có xảy ra cãi vã. Do thấy M và Trân không bình tĩnh nên Q, T bỏ ra ngoài đi xuống sảnh, ngồi ở sô pha ngay quầy lễ tân chung cư. Khoảng 15 phút sau, Trân và M đi xuống sảnh của chung cư thì T và Q chạy đến gần chỗ M, Q cầm chai nước ném về phía M nhưng không trúng, T chỉ vào mặt M và nói “Sao mày đánh em tao” thì M trả lời “Tao thích thì tao đánh” nên T dùng tay trái nắm tóc M kéo 01 đoạn 7,4m đến trước quầy lễ tân và dùng chân phải đá 02 cái vào hông trái của M, M ngồi xuống, tay trái, T nắm tóc M và chân phải đá 03 cái liên tiếp vào vùng mông của M, M vừa khom người vừa ngồi để né T thì T dùng gối phải lên gối vào mặt M 01 cái, M ngồi xuống tay trái T vẫn nắm tóc M, tay phải tát liên tục 03 cái vào vùng đầu của M. T vừa đánh vừa chửi M. Trong lúc T đánh M thì Q đứng kế bên, dùng tay nắm tóc M, dùng tay đánh vào vùng đầu của M nhiều cái. Sau đó, T tiếp tục nắm tóc M lôi kéo 01 đoạn 10m đến gần bộ ghế gỗ thì được anh Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Hữu H1, nhân viên bảo vệ của tòa nhà can ngăn. T và Q nói M ngồi xuống ghế còn T, Q thì đứng trước mặt M, dùng điện thoại di động quay lại, Q điện thoại nhờ bạn Nguyễn Thanh Tiến D trình báo công an Phường K, quận BT. Cả 03 người chờ khoảng 15 phút thì H đi tới. Sau đó, tất cả cùng lên lầu 4 chung cư nói chuyện. Tại đây, mọi người ngồi lại nói chuyện một lúc M, T bỏ đi về. Khi sự việc xảy ra, T chứng kiến M bị T và Q đánh thì dùng điện thoại quay lại, khi về thì có gửi clip cho M. Đến ngày 3/12/2023, M tâm sự với S về việc mình bị đánh và gửi đoạn clip đó cho S, S đăng đoạn clip lên Facebook tài khoản “NS” có nhiều lượt chia sẻ và bình luận nên ngày 6/12/2023, M đến Công an Phường K trình báo sự việc.

Công văn số: 57/UBND của UBND Phường K, quận BT ngày 22/01/2024 nhận định: Sự việc xảy ra tại sảnh chung cư L, 215 GT, Phường K, quận BT ngày 19/11/2023 gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây ra tình trạng hoang mang, lo sợ đối với cư dân chung cư L và người dân sống tại địa phương.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can Trịnh Đình Thanh T, Phan Ngọc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên (BL 214, 216, 257, 259)

Trong quá trình điều tra, Trần Vũ M từ chối giám định thương tích, rút đơn yêu cầu khởi tố đối với T và Q (BL 287 – 289)

Vật chứng vụ án:

  • 1 mũ lưỡi trai màu đen có chữ ELEVEN, 01 quần Jean ngắn màu xám, 01 đôi giày thể thao màu đen có ba sọc trắng hiệu ADIDAS, 01 áo thun đen mặt trước mặt sau có số 88;
  • 1 điện thoại Iphone 14 Pro thu giữ của Trịnh Đình Thanh T;
  • 01 áo thun tay ngắn màu xanh, 01 quần ngắn màu xám, 01 nón lưỡi trai màu nâu có chữ “LIBER WITH SEXY GIRLS” màu trắng, 01 đôi dép màu đen có chữ “ESENTIALS";

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Vũ M đã nhận đền bù 100.000.000 đồng của Phan Ngọc Q và Trịnh Đình Thanh T nêu không yêu cầu bồi thường gì thêm (BL 257 - 259).

Tại bản Cáo trạng số: 205/CT-VKS-QBT ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phạm Ngọc Q về tội “Gây rối trật tự công cộng”, được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phạm Ngọc Q đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Quá trình điều tra các bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình hoặc các hành vi khác để buộc các bị cáo khai không đúng sự thật khách quan của vụ án. Các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời nói sau cùng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Vũ M có gửi đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin bãi nại, đơn xin Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện đã ghi nhận đầy đủ ý kiến, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Vũ M trong hồ sơ vụ án, các bị cáo đã tự nguyện bôi thường trách nhiệm dân sự cho chị Trần Vũ M số tiền là 100.000.000 đồng, nên chị Trần Vũ M không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự. Ngoài ra chị M có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do đó việc vắng mặt không ảnh hưởng đến

việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phạm Ngọc Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trịnh Đình Thanh T từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù. Nhưng cho hưởng án án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) đến 02 (hai) năm.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Q từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù. Nhưng cho hưởng án án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) đến 02 (hai) năm.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Vũ M số tiền 100.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, do đó, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Về vật chứng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Luật sư Vũ Anh T và Luật sư Nguyễn Xuân H, là Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Huỳnh Thanh Thi, Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh trình bày luận cứ bào chữa cho các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q như sau:

Luật sư thống nhất tội danh và điều luật truy tố đối với hai bị cáo như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố đối với hai bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q. Tuy nhiên, Luật sư cho rằng hình phạt áp dụng đối với 02 bị cáo như đề xuất của Viện kiểm sát là quá nghiêm khắc đối với các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q.

Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị như đã nêu, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo như sau: Đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự bởi hành vi của các bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, bị cáo Phan Ngọc Q có thành tích tốt trong học tập, nhận được nhiều giấy khen, có bố ruột nhận được nhiều giấy khen, bằng khen nơi công tác.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, h, i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và

Phan Ngọc Q là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm mức thấp nhất khung hình phạt có thể cho bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q.

Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tranh luận đối đáp với Luật sư bào chữa cho hai bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q như sau: Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh không đồng tình với phần tranh luận của Luật sư về việc đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự bởi hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là trật tự xã hội và nhân thân bị cáo không hội đủ các điều kiện để được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình luận tội với hai bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q.

Các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q thống nhất với phần tranh luận của Luật sư, không tranh luận bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q khai nhận quá trình điều tra tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không bị ép buộc khai không đúng với ý chí của các bị cáo. Như vậy lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay giống như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn trong chuyện tình cảm giữa Nguyễn Hữu A và Nguyễn Thị Thu H, nên nghi ngờ Nguyễn Hữu A có mối quan hệ tình cảm với Trần Vũ M và Tô Thị Huyền T. Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/11/2023 tại sảnh khách sạn tòa nhà L có địa chỉ số 215 đường GT, phường K, quận BT, Thành phố H các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q đã có hành vi dùng tay nắm tóc chị Trần Vũ M, vừa lôi kéo. Trịnh Đình Thanh T vừa dùng chân đá nhiều cái vào hông, vào mông chị M, lên gối vào mặt chị M. Phan Ngọc Q vừa dùng tay

tát vào vùng đầu chị M, cả hai bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q vừa đánh, vừa lôi chị M, vừa lớn tiếng chửi bới, nghi ngờ chị Trần Vũ M sữ dụng trái phép chất ma Ty. Trịnh Đình Thanh T nắm tóc lôi kéo chị M khoảng 19,3 mét tại sảnh chung cư Labonita vào thời điểm ban ngày có nhiều người dân qua lại, sinh sống ở khu vực tòa nhà qua lại chứng kiến, sự việc sảy ra đến ngày 03/12/2023 tại tài khoản facebook Nguyễn Sin đăng đoạn video clip Trần Vũ M bị Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q đánh lên ứng dụng facebook có 11.071 người xem, có 500 lượt chia sẻ, có 3088 bình luận. Hành vi của các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương và còn gây ảnh hưởng xấu, tiêu cực trên không gian mạng xã hội. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành.

[4] Ủy ban nhân dân phường K, quận BT, Thành phố H có văn bản số 57/UBND ngày 22/01/2024 gửi đến Công an quận Bình Thạnh để yêu cầu giải quyết vụ việc đúng theo quy định của pháp luật. Tại văn bản nhận định như sau: Sự việc xảy ra tại sảnh chung cư L, số U đường GT, phường K, quận BT, Thành phố H ngày 19/11/2023 gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây ra tình trạng hoang mang, lo sợ đối với cư dân chung cư L và người dân sống tại địa phương.

Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q là người đã trưởng thành, đã đủ khả năng nhận thức để biết việc làm của mình là trái với quy định của pháp luật, nhưng vì thiếu suy nghĩ, các bị cáo đã cố ý dùng vũ lực và những lời lẽ thô tục để chửi bới, đánh đập, nắm tóc kéo lê bị hại một quãng đường dài khoảng 19,3 mét ngay tại sảnh chung cư L là khu vực công cộng, khu vực sinh hoạt chung của cư dân sinh sống tại chung cư gây náo loạn, ảnh hưởng xấu, tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây ra tình trạng hoang mang, lo sợ đối với cư dân chung cư L và người dân sống tại đia phương, ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu trên không gian mạng, được nhiều cá nhân tổ chức quan tâm, bình luận, được nhiều bài báo đưa tin.

Hành vi của các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây xáo trộn cuộc sống và sinh hoạt bình thường của người dân, gây mất trật tự trị an và trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu và tiêu cực trên không gian mạng. Các bị cáo thấy sai nhưng vẫn thực hiện một cách cố ý, thể hiện ý thức coi thường, thách thức pháp luật của Nhà nước nhằm thỏa mãn động cơ cá nhân của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm

khắc đối với các bị cáo nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Ngoài ra nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

[6] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm: Các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q đã cùng nhau thực hiện hành vi dùng vũ lực và những lời lẽ thô tục để chửi bới, đánh đập người liên quan. Trong đó vai trò chính là của bị cáo Trịnh Đình Thanh T, bị cáo đã nắm tóc kéo lê bị hại một quảng đường dài khoảng 19,3 mét, dùng chân, tay đánh đập quát nạt, chửi bới, la hét ngay tại sảnh chung cư L là khu vực công cộng, khu vực sinh hoạt chung của cư dân sinh sống tại chung cư gây náo loạn, ảnh hưởng xấu, tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây ra tình trạng hoang mang, lo sợ đối với cư dân chung cư L và người dân sống tại địa phương, ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân. Đối với bị cáo Phan Ngọc Q có hành vi đồng phạm giúp sức và Q cũng dùng tay đánh trực tiếp vào mặt bị hại nhiều cái. Trong vụ án này các bị cáo cùng thực hiện hành vi chưa có sự phân công nhiệm vụ, vai trò cụ thể, chưa cấu kết chặt chẽ với nhau, phạm tội do bộc phát, nhất thời. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm mang tính giản đơn. Vì vậy, căn cứ vào từng hành vi, tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo, nhân thân của các bị cáo, để Hội đồng xét xử phân hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hình vi phạm tội của từng bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không có

[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã xin lỗi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Vũ M và tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự cho chị Trần Vũ M là 100.000.000 đồng, chị Trần Vũ M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự. Bị hại chị Trần Vũ M đã có đơn bãi nại xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[9] Đối với bị cáo Phan Ngọc Q hiện là hiện là sinh viên Trường Đại học K, Thành phố H. Quá trình học tập bị cáo có nhiều thành tích trong học tập và nhận được nhiều giấy khen. Bị cáo có bố ruột nhận được nhiều giấy khen, bằng khen trong công tác, hiện nay bố ruột đang bị bệnh như bệnh huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ và bệnh đái tháo đường Tp 2. Xét thấy cần thiết phải tạo điều kiện cho các bị cáo tiếp tục học tập để phát triển tốt về thể chất, tinh thần để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Nhận thấy, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, đã nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật và cam kết sẽ không bao giờ tái phạm. Quá trình được tại ngoại điều tra các bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của địa phương, chính sách pháp luật của Nhà nước, không có vi phạm pháp luật nào khác, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng.

[11] Xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên cho các bị cáo Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách với các bị cáo cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Ngoài ra cũng tạo điều kiện cho cho bị cáo ở ngoài tiếp tục con đường học tập cho tương lai phía trước.

[12] Trong vụ án này, Nguyễn Thị Thu Huyền có hành vi nhờ T và Q đến nói chuyện với An, hoàn toàn không nói, xúi giục T và Q đánh M, thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nên không có căn cứ xử lý Nguyễn Thị Thu Huyền.

[13] Về xử lý vật chứng:

  • 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ ELEVEN, 01 quần Jean ngắn màu xám, 01 đôi giày thể thao màu đen có ba sọc trắng hiệu ADIDAS, 01 áo thun đen mặt trước mặt sau có số 88. Đây không phải là vật chứng của vụ án, là vật nhằm để nhận diện bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
  • 01 điện thoại Iphone 14 Pro thu giữ của Trịnh Đình Thanh T. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo đúng quy định.
  • 01 áo thun tay ngắn màu xanh, 01 quần ngắn màu xám, 01 nón lưỡi trai màu nâu có chữ “LIBER WITH SEXY GIRLS” màu trắng, 01 đôi dép màu đen có chữ “ESENTIALS”. Đây không phải là vật chứng của vụ án, là vật nhằm để nhận diện bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[14] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Vũ M đã nhận đền bù 100.000.000 đồng của Phan Ngọc Q và Trịnh Đình Thanh T. Đồng thời bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, do đó Hội đồng xét xử không xét.

[15] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, Miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trịnh Đình Thanh T 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám tháng) tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.

Giao bị cáo Trịnh Đình Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường AK, thành phố TĐ, Thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trịnh Đình Thanh T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Q 06 (Sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.

Giao bị cáo Phan Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố TĐ, Thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phan Ngọc Q cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.

3. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ ELEVEN, 01 quần Jean ngắn màu xám, 01 đôi giày thể thao màu đen có ba sọc trắng hiệu ADIDAS, 01 áo thun đen mặt trước mặt sau có số 88.
  • 01 áo thun tay ngắn màu xanh, 01 quần ngắn màu xám, 01 nón lưỡi trai màu nâu có chữ “LIBER WITH SEXY GIRLS” màu trắng, 01 đôi dép màu đen có chữ "ESENTIALS”.

+ Tuyên trả lại cho bị cáo Trịnh Đình Thanh T: 01 điện thoại Iphone 14 Pro.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 09 giờ 30 phút, ngày 05/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, Miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh
  • - VKSND, CA quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THA Dân sự Q.BT;
  • - THA HS;
  • - PC.27 Công an Tp.HCM;
  • - Trại giam;
  • - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 266/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 266/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Đình Thanh T và Phan Ngọc Q - Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger