|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 266/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng
Bà Trần Thị Ánh Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 258/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị H, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1986, tại: tỉnh Nam Định; Số căn cước công dân: Không; nơi đăng ký thường trú: Không; nơi cư trú: H, Tầng B, Tập thể Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khắc T (đã chết) và bà Trần Thị Đ; không có chồng và có 05 con ngoài giá thú, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 290/2017/HS-ST ngày 11-9-2017, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09-9-2019, đã thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18-9-2024, chuyển tạm giam ngày 27-9-2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Trung K và bà Chu Thị Hồng H1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 17-9-2024, tổ công tác Công an phường T, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà B ngõ N, phường T, thành phố N phát hiện bị cáo Trần Thị H đi xe đạp điện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Bị cáo Hồng thả từ tay phải xuống đất 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (2,5 x 3,2) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (bị cáo H khai là ma túy đá mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Trần Thị H và tạm giữ của bị cáo H 01 chiếc xe đạp điện màu đỏ, đã cũ.
Ngày 19-9-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định trưng cầu giám định số 2502/QĐ-ĐCSMT đối với mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (2,5x3,2) cm thu giữ được của bị cáo Trần Thị H. Bản kết luận giám định số 1615/KL-KTHS ngày 24-9-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng kích thước (2,5 x 3,2) cm được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,574 gam.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trần Thị H khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 17-9-2024, bị cáo H đi xe đạp điện đến khu vực ngõ N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng. Bị cáo H cầm túi ma túy đá trong tay phải rồi, đi xe đạp điện về tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Công an phường T, thành phố N tiến hành xác minh đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Thị H tại khu vực ngõ N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định nhưng không xác định được đối tượng, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không có căn cứ xử lý.
Bản cáo trạng số 261/CT-VKSND-TPNĐ ngày 04-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Thị H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Trần Thị H. Đối với chiếc xe đạp điện mini màu đỏ đã cũ là của chị Trần Thị N (là con của Trần Thị H), sinh năm 2004, trú tại: tỉnh Hà Nam. Chị N không biết bị cáo H mượn xe đi mua ma tuý nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho chị N.
- - Buộc bị cáo Trần Thị H nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thị H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
-
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17-9-2024; Biên bản làm việc thu dữ liệu bản ảnh vật chứng bắt quả tang ngày 17-9-2024; Kết luận giám định số 1615/KL-KTHS ngày 24-9-2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17-9-2024, tại khu vực trước cửa số nhà B ngõ N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Trần Thị H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,574 gam Methamphetamie mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trần Thị H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,574 gam loại Methamphetamine. Vì vậy, bị cáo Trần Thị H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
-
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trần Thị H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Trần Thị H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; bản thân bị cáo có nhân thân xấu, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo thực hiện, mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
-
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Thị H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Thị H là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe đạp điện mini màu đỏ đã cũ là của chị Trần Thị N (là con của Trần Thị H), sinh năm 2004, trú tại: tỉnh Hà Nam. Chị N không biết bị cáo H mượn xe đi mua ma tuý nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho chị N.
- Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Thị H, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
-
Về án phí:
Bị cáo Trần Thị H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị H 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18-9-2024.
-
Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ trong phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 1615/KL-LTHS còn nguyên vẹn niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh N.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-11-2024)
-
Án phí:
- - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Thị H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Thị H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Bang |
Bản án số 266/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 266/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thị H 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18-9-2024.
