|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 266/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Quang Trung |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Bùi Thị Hoa |
| Ông Mai Xuân Thường | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Cẩm Nhung – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Khánh T, sinh năm 1986;
Địa chỉ cư trú: B, 23552 - L, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài T1, sinh năm 1982;
Địa chỉ cư trú: số B, đường N, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đề nghị xét xử vắng mặt (có chứng thực của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đức), nguyên đơn anh Nguyễn Khánh T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Hoài T1 kết hôn với nhau vào ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại Đ1 tại C liên bang Đ, việc kết hôn trên cơ sở tình cảm và tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn, chị T1 về nước, trong thời gian chờ anh T đón đoàn tụ sang Đức thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về một số vấn đề trong cuộc sống. Hiện tại, chị T1 ở Việt Nam còn anh T đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đ, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hoài T1.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Khánh T hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đức, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T2 nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị Hoài T1 trình bày:
Chị được biết anh Nguyễn Khánh T nộp đơn ly hôn chị tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nên vào ngày 25/6/2024, chị đến Tòa án để viết bản tự khai, trình bày ý kiến. Chị và anh Nguyễn Khánh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Đ1 tại C liên bang Đ vào ngày 10 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn, anh T tiếp tục sang sinh sống và lao động tại nước Cộng hòa liên bang Đức, còn chị về Việt Nam để chờ chồng đón sang đoàn tụ, thời gian này vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong tính cách, quan điểm sống. Hiện nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh T làm đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý.
Về con chung: Chị và anh T không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Hoài T1 hiện đang cư trú và làm việc tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam do bận công việc nên chị đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Khánh T hiện đang cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hoài T1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì nguyên đơn anh Nguyễn Khánh T không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và anh T đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Khánh T hiện đang cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T2 nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu (có chứng thực của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và anh T có đơn đề nghị xét xư vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Hoài T1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị T1 đề nghị xét xư vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu, chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Khánh T và chị Nguyễn Thị Hoài T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đ vào ngày 08 tháng 10 năm 2020, là hôn nhân hợp pháp. Theo anh T và chị T1 trình bày: Sau khi kết hôn, anh T tiếp tục sinh sống và làm việc tại Cộng hòa liên bang Đ, còn chị T1 trở về Việt Nam. Trong thời gian chờ anh T đón đoàn tụ sang Đức thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về một số vấn đề trong cuộc sống.. Hiện tại, anh T và chị T1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh T nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1. Về phía chị T1 cũng đồng ý ly hôn và xác định vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn như yêu cầu ly hôn của anh T. Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Điều 3 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Khánh T và chị Nguyễn Thị Hoài T1.
[3]. Về con chung: Anh Nguyễn Khánh T và chị Nguyễn Thị Hoài T1 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Khánh T và chị Nguyễn Thị Hoài T1 không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Khánh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012864 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 và khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Khánh T và chị Nguyễn Thị Hoài T1.
- Về con chung: Anh Nguyễn Khánh T và chị Nguyễn Thị Hoài T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Khánh T và chị Nguyễn Thị Hoài T1 không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
- Về án phí: Anh Nguyễn Khánh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012864 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Khánh T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Hoài T1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quang Trung |
4
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Bùi Thị Hoa | Nguyễn Quang Trung |
| Trần Xuân Thành |
5
Bản án số 266/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 266/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án thụ lý số: 207/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”,
