|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 266/2021/DS-PT Ngày: 24-3-2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Giảng.
Các Thẩm phán: Bà Đặng Huyền Phương, Bà Vũ Thị Thu Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Anh Nga - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/DSPT ngày 21/01/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2020/ST-DS ngày: 03/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận z (nay là Tòa án nhân dân thành phố Đ), bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 724/QĐXXPT-DS ngày 25/02/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Dịch vụ Tài chính Đầu tư L.
Địa chỉ: phường B, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ: Phường y, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 18/8/2020).
Bị đơn:
- Ông Trần Văn Q, sinh năm 1977; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm 1978. (có mặt)
Cùng địa chỉ: phường T, thành phố Đ (trước đây là Quận z), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 07/8/2020 và trong suốt quá trình tố tụng, nguyên đơn Công ty Cổ phần Dịch vụ Tài chính Đầu tư L có đại diện hợp pháp theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn N trình bày:
Ngày 17/7/2019, Công ty Cổ phần Dịch vụ Tài chính Đầu tư L (sau đây ghi tắt là Công ty) và vợ chồng ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị Khánh L ký hợp đồng thuê mặt bằng số 0119/LT_HĐTMB có các nội dung chính như sau:
Đối tượng hợp đồng thuê là mặt bằng tại địa chỉ 175 xa lộ Hà Nội, phường Thảo Điền, Quận z (nay là thành phố Đ) do vợ chồng ông Q, bà L đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03304 được Uỷ ban nhân dân Quận z (nay là thành phố Đ) cấp ngày 05/8/2016. Tổng diện tích thuê 935,7m2 là toàn bộ khu đất trong Giấy chứng nhận và 01 khung nhà kết cấu thép sàn bê tông mái tôn xây dựng tạm theo hiện trạng.
Mục đích thuê là làm văn phòng và hoạt động của Công ty. Thời hạn thuê là 10 năm, thời gian cho phép sửa chữa mặt bằng là 03 tháng tính từ ngày nhận mặt bằng. Tiền thuê được tính từ ngày hết tháng thứ 3 kể từ ngày bàn giao mặt bằng.
Thực hiện hợp đồng: Chủ mặt bằng và Công ty đã bàn giao và nhận mặt bằng từ ngày 01/10/2019. Công ty đã thanh toán tiền thuê các tháng 01+02+03 năm 2020 (03 tháng) là 348.900.000 đồng.
Công ty tiến hành xin hướng dẫn thủ tục sửa chữa gửi Uỷ ban nhân dân phường Thảo Điền, Phòng quản lý đô thị Quận z (nay là thành phố Đ) để sửa chữa mặt bằng thuê. Ngày 08/6/2020 Phòng Quản lý đô thị Quận z (nay là thành phố Đ) có Văn bản số 250/QLĐT trả lời đơn của Công ty với nội dung: “... Theo đồ án quy hoạch 1/2000 Khu dân cư Bắc xa lộ Hà Nội, phường Thảo Điền và một phần phường An Phú, Quận z duyệt theo quyết định số 1444/QĐ-UBND ngày 26/3/2016 của Ủy ban nhân dân Tp. Hồ Chí Minh, thửa đất số 501 tờ bản đồ số 64 (BĐĐC), phường Thảo Điền, Quận z thuộc ô phố II.20A, quy hoạch đất ở cao tầng, thuộc khu vực cấp phép xây dựng có thời hạn, quy mô tối đa 03 tầng.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC975752 (số vào sổ cấp GCN: CH03304) do UBND Quận z cấp ngày 05/8/2016, phần công trình nhà mái tôn thể hiện trên Giấy chứng nhận chưa được công nhận và ghi chú là đang tháo dỡ, do đó, không có cơ sở xem xét cấp phép sửa chữa cải tạo đối với phần công trình nêu trên, đề nghị chủ sử dụng đất tháo dỡ công trình trước khi nộp hồ sơ xin phép xây dựng”.
Phát sinh tranh chấp hợp đồng: Khi Công ty đang xin cơ quan chức năng Quận z (nay là thành phố Đ) hướng dẫn thủ tục xin sửa chữa thì ông Q, bà L liên tục đòi tiền thuê mặt bằng từ tháng 4/2020 trở đi. Tình hình dịch Covid-19 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh doanh của Công ty, trong khi Công ty sử dụng mặt bằng thuê, không thể xin giấy phép sửa chữa mặt bằng thuê của ông Q, bà L nên ngày 02/6/2020 hai bên có buổi họp giải quyết để chấm dứt hợp đồng thuê trước hạn, Công ty yêu cầu ông Q, bà L hoàn trả tiền cọc đã nhận; không tính tiền thuê tháng 4 và tháng 5 năm 2020...
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo. Thẩm quyền giải quyết vụ án sơ thẩm đã xác định đúng, đã đưa đủ người tham gia tố tụng, việc thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Theo “Hợp đồng thuê mặt bằng” số 0119/LT_HĐTMB ngày 17/7/2019 thể hiện: Đối tượng hợp đồng là mặt bằng tại địa chỉ 175 xa lộ Hà Nội, phường Thảo Điền, Quận z (nay là thành phố Đ), Thành phố Hồ Chí Minh, được thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03304 do Uỷ ban nhân dân Quận z (nay là thành phố Đ) cấp ngày 05/8/2016. Tổng diện tích cho thuê 935,7m2 là toàn bộ khu đất trong Giấy chứng nhận và 01 khung nhà kết cấu thép sàn bê tông mái tôn xây dựng tạm theo hiện trạng. Mục đích sử dụng: Làm văn phòng và hoạt động kinh doanh.
...
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 401, 410, 418, 428, 478, 481 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Trần Văn Q; Sửa Bản án sơ thẩm số 77/2020/ST-DS ngày 03/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận z (nay là thành phố Đ), Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là Công ty Cổ phần Dịch vụ Tài chính Đầu tư L về việc buộc ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị Khánh L hoàn trả Công ty Cổ phần Dịch vụ Tài chính Đầu tư L số tiền đặt cọc là 1.116.480.000 đồng và tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 18/6/2020 đến ngày 07/8/2020 là 15.294.247 đồng, cùng tiền lãi phát sinh.
2. Án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần Dịch vụ Tài chính Đầu tư L phải chịu 45.953.227 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng là 22.976.614 đồng (theo Biên lai thu số AA/2018/0027859 ngày 11/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận z) (nay là thành phố Đ), còn phải nộp thêm là 22.976.613 đồng.
|
Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TPHCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TPHCM; - TAND TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng (T.25). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Giảng |
Bản án số 266/2021/DS-PT ngày 24/03/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
- Số bản án: 266/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
