|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 2650/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-12-2023
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Triều;
- Bà Lê Thị Nhanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 345/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5682/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng P, sinh năm: 1956.
Địa chỉ: D L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Thi Hồng H, sinh năm: 1956.
Quốc tịch: Việt Nam
Địa chỉ: Partridge Run Duncanville TX 75137 USA. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/6/2022 và trong quá trình tố tụng, ông Trần Hoàng P - nguyên đơn trình bày:
Ông và bà Thi Hồng H quen biết và đăng ký kết hôn năm 1982 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/12/1982 theo Trích lục kết hôn số 001467/TLKH-BS ngày 09/6/2022. Sau khi kết hôn, bà H trở về Hoa Kỳ, ông ở lại Việt Nam. Từ sau khi kết hôn cho đến nay, ông và bà H chưa sống chung với nhau, hiện nay ông không liên lạc được với bà H và tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Thi Hồng H.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông P khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã thực hiện việc ủy thác tư pháp sau đó đề nghị Đ tại Hoa Kỳ đăng trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán để thông báo thời gian tổ chức các phiên họp hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bà Thi Hồng H không có mặt.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn ông Trần Hoàng P vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã nêu trên đồng thời có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn bà Thi Hồng H vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xét thấy hôn nhân giữa ông Trần Hoàng P và bà Thi Hồng H là hợp pháp.
Quá trình chung sống, cả hai ở hai đất nước khác nhau làm cho mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Trần Hoàng P.
Đối với con chung, nợ chung và tài sản chung: Ông P khai không có và không yêu cầu xem xét, giải quyết nên đại diện Viện kiểm sát không phát biểu quan điểm về vấn đề này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Trần Hoàng P và bà Thi Hồng H là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có nơi cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; bị đơn có nơi cư trú tại Hoa Kỳ nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình tố tụng, ngày 02/8/2022 Tòa án đã gửi Văn bản về việc Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập tham gia tố tụng cho bị đơn bà Thi Hồng H theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 21/4/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 117/BTP-PLQT ngày 02/02/2023 của Bộ Tư pháp thông báo về việc cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ không thực hiện được ủy thác do địa chỉ không đầy đủ nên ngày 14/6/2023 Tòa án gửi văn bản đề nghị Đ tại Hoa Kỳ thông báo trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự; tuy nhiên, đến ngày mở phiên tòa (lần thứ I, lần thứ II) bà Thi Hồng H không có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 19/7/2022, nguyên đơn ông Trần Hoàng P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã cung cấp lời khai và xác định cụ thể yêu cầu khởi kiện nên việc nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án đồng thời phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[2]. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Trích lục ghi chú kết hôn số 001467/TLKH-BS, ngày 09/6/2022 của Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Trần Hoàng P và bà Thi Hồng H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 31 tháng 12 năm 1982 tại Ủy ban nhân dân quận B nên quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Hoàng P và bà Thi Hồng H là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn ông Trần Hoàng P thì bà Thi Hồng H sinh sống, làm việc ở Hoa Kỳ còn ông ở Việt Nam nên vợ chồng không có điều kiện chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; bên cạnh đó, ông P đã không còn liên lạc được với bà Thi Hồng H. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã làm thủ tục ủy thác tư pháp đồng thời thông báo cho bà Thi Hồng H biết yêu cầu ly hôn của ông P và ngày Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử nhưng không nhận được ý kiến trả lời; điều này cho thấy bà Thi Hồng H không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với ông P, như vậy việc hàn gắn là không còn biện pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Trần Hoàng P và bà Thi Hồng H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay ông P có yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống là nguyện vọng chính đáng đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.
Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Ông P khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Trần Hoàng P chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Hoàng P.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoàng P được ly hôn với bà Thi Hồng H.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông Trần Hoàng P chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2021/0002609 ngày 08/7/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P không phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Bích Loan |
4
Bản án số 2650/2023/HNGĐ-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 2650/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
