Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2024/KDTM-PT.

Ngày 30/9/2024.

“V/v tranh chấp hợp đồng bảo lãnh”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Thành.

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Đức Lập và bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh.

Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Hòa- Thư ký Toà án nhân dân TP Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội: bà Đinh Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 và 30/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 13/2024/KTPT ngày 08/01/2024 về việc “Tranh chấp bảo lãnh thực hiện hợp đồng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 41/2023/KDTM- ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 575/2024/QĐXXPT- KDTM ngày 29/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 599/2024/QĐPT- KDTM ngày 12/9/2024, giữa:

Nguyên đơn: Ban Q1

Trụ sở: số F N, phường B, Quận B, TP Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Quốc D, Phó giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: bà Bùi Thị H, địa chỉ số F N, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh; bà Bùi Thị X, ông Nguyễn Minh T, bà Đào Thị Thu B, địa chỉ Phòng 403, tầng 4, số H N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội. Bà H và bà X có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Minh T1, Luật sư Đỗ Thị L-Công ty L2 và Cộng sự. Trụ sở phòng 403, tầng 4, số H phố N, phường L, quận Đ, TP Hà Nội. Luật sư T1 và Luật sự L có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ

Trụ sở: tháp B1, số A T, phường L, quận H, TP Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Ngọc L1, Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Chí D1 (Phó giám đốc ban P B1), ông Nguyễn Hồng K (Phó trưởng phòng ban Pháp chế B1), ông Hoàng Anh D2 (Phó giám đốc B1 Chi nhánh T3), ông Nguyễn Quang H1 (Trưởng phòng B1 Chi nhánh T3), ông Đồng Văn T2 (Chuyên viên B1 Chi nhánh T3), Lê Hoài N (trưởng phòng xử lý nợ Chi nhánh T3). Ông Chí D1, ông Anh D2, ông H1, ông T2 và ông N có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP T4

Trụ sở: phòng 103 E8 tập thể T, quận T, TP Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Dương Văn Q- Giám đốc. Ông Q xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Ban Q1 trình bày:

Ngày 31/12/2007, Ban Q1 (sau đây gọi tắt là nguyên đơn) ký hợp đồng kinh tế số 199/HĐ.XL với liên danh các nhà thầu (gồm Công ty cổ phần C, Công ty T4, Công ty cổ phần T4) liên quan đến việc thi công gói thầu số 13 xây dựng cầu N +198 (bao gồm cả thiết kế bản vẽ thi công, sau đây viết tắt là TKBVTC) thuộc dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp QL 91 đoạn cầu N- ngã ba B, tỉnh An Giang.

Các bên thỏa thuận giá trị hợp đồng là 90.375.234.000 đồng. Trong đó bao gồm cả chi phí lập TKBVTC. Trong đó Công ty cổ phần T4 thực hiện là 13.879.237.000 đồng. Thời hạn thi công là 870 ngày (tương đương với 29 tháng) kể từ ngày khởi công (có biên bản giao nhận mặt bằng).

Ngày 15/01/2008, B1 chi nhánh T3 đã phát hành Bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tiền tạm ứng để bảo lãnh cho Công ty T4 trong việc thực hiện Hợp đồng kinh tế số 199/HĐ- XL. Cụ thể là:

  • Thứ nhất: bảo lãnh thực hiện hợp đồng số 22036.00.00.56343 với giá trị là 693.961.835 đồng;
  • Thứ hai: bảo lãnh tạm ứng số 22036.00.00.56398 với giá trị là 4.163.771.100 đồng.

Tại nội dung các Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng cũng như bảo lãnh tạm ứng nêu trên, B1- chi nhánh T3 đều cam kết "Chúng tôi cam đoan sẽ trả cho chủ đầu tư khi chủ đầu tư có văn bản yêu cầu mà không cần sự giải thích nào khác trong giới hạn".

Do Công ty T4 đã vi phạm hợp đồng (trong đó khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng chỉ đạt được giá trị là 130.152.000 đồng) và để đảm bảo tiến độ thi công chung của toàn dự án, Bộ G đã có văn bản số 1358/BGTVT- QLXD ngày 10/3/2010 chấp thuận việc lựa chọn nhà thầu khác thay thế và thi công phần khối lượng còn lại của gói thầu. Nguyên đơn đã tiến hành thủ tục chấm dứt hợp đồng với Công ty T4.

Nguyên đơn cũng đã nhiều lần đề nghị bị đơn hoàn trả khoản bảo lãnh tiền tạm ứng nhưng đến nay bị đơn vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ bảo lãnh.

Hiện bị đơn vẫn chưa thanh toán khoản bảo lãnh tạm ứng có giá trị 4.727.580.935 đồng.

Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn:

  1. Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ khoản tiền bảo lãnh là 4.727.580.935 đồng cho phần nghĩa vụ nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng theo các tài liệu nêu trên.
  2. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chậm trả tạm tính từ ngày 16/3/2010 đến ngày 31/5/2019 theo lãi suất chậm thanh toán (lãi suất cơ bản của Ngân hàng N1 9%/năm) là 3.975.895.566 đồng

Tổng số tiền mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 8.703.476.501 đồng.

Bị đơn do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đề nghị Tòa án tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì các lý do sau:

  • Thứ nhất: Thư bảo lãnh tạm ứng số 22036000056938 ngày 15/01/2008 của bị đơn phát hành chưa có hiệu lực pháp luật. Cụ thể, tại Thư bảo lãnh tiền tạm ứng này quy định: Giấy bảo lãnh tạm ứng này có hiệu lực từ ngày số tiền trên được ghi có vào tài khoản số 22010000132818 của Công ty T4 mở tại bị đơn đến khi khoản tiền tạm ứng được khấu trừ hết. Thực tế, bên nhận bảo lãnh (Ban Q2 nay đổi tên là nguyên đơn) chưa chuyển đủ số tiền tạm ứng vào tài khoản của Công ty T4 (chuyển thiếu 39.771.100 đồng).
  • Căn cứ vào điều khoản hiệu lực tại Thư bảo lãnh thì Thư bảo lãnh nói trên chưa phát sinh hiệu lực do bên nhận chưa chuyển đủ số tiền tạm ứng. Do đó, bị đơn không có trách nhiệm thực hiện theo thư bảo lãnh trên.
  • Thứ hai: hai khoản bảo lãnh tạm ứng và thực hiện hợp đồng công trình cầu N cũng tương tự như khoản bảo lãnh tạm ứng của UBND tỉnh Q (Ban QLDA huyện N), theo đó ông Dương Văn Q và bà Phùng Lan H2 đã có hành vi làm giả giấy tờ tài liệu của cơ quan nhà nước để tham gia đấu thầu và đã trúng thầu, bị đơn không biết ông Q và bà H2 có hành vi làm giả giấy tờ nên đã phát hành bảo lãnh cho Công ty T4. Các Thư bảo lãnh được xác lập trên cơ sở hồ sơ và thông tin được cung cấp là giả mạo nên không có hiệu lực pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T4 do ông Dương Văn Q là người đại diện theo pháp luật trình bày:

Công ty T4 do ông là người đại diện theo pháp luật được thành lập năm 2004. Do người đại diện theo pháp luật vi phạm pháp luật nên đã dừng hoạt động từ năm 2012 đến nay. Công ty T4 là nhà thầu liên danh gói thầu số 13 xây dựng cầu N- An Giang. Trong quá trình thi công, công ty đã gặp nhiều yếu tố khách quan, chủ quan dẫn đến chậm tiến độ do đó chủ đầu tư đã thu hồi dự án giao cho nhà thầu khác thi công.

Ngày 15/01/2008, bị đơn đã phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tiền tạm ứng để bảo lãnh cho Công ty T4 thực hiện hợp đồng kinh tế 199/HĐXL. Để bị đơn phát hành thư bảo lãnh, Công ty T4 có thế chấp tài sản cho Ngân hàng và các tài sản này đã được Ngân hàng giải chấp. Ông không có yêu gì về việc thế chấp và giải chấp tài sản này. Về Biên bản nghiệm thu 05 cọc bê tông cốt thép tường chắn mố B mà Công ty T4 đã thi công, ông nhất trí và không thắc mắc gì.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 41/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023

của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc tranh chấp bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng.
  2. Bác yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nguyên đơn số tiền gốc là 4.727.580.935 đồng và số tiền lãi chậm trả tính từ ngày 16/3/2010 đến ngày 30/8/2023 là 5.810.196.969 đồng. Tổng cộng 10.537.777.904 đồng.
  3. Về án phí: nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại nguyên đơn số tiền 59.125.879 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0052187 ngày 22/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.

Bị đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thấm.

Không đồng ý với Bản án sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Lý do Bản án tuyên không đúng với thực tế khách quan của việc bảo lãnh và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, đồng thời không phù hợp các quy định về bảo lãnh nên đã không tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, gây thiệt hại rất lớn cho nguyên đơn. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng là 4.687.809.835 đồng và số tiền lãi tính từ ngày Bản án hình sự phúc thẩm số 314/2018/HSPT ngày 23/5/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có hiệu lực với mức lãi suất là 9%/năm là 2.258.625.308 đồng. Tổng cộng nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán cả gốc và lãi là 6.946.435.143 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thực hiện ngay nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn khi Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật nếu trả tiền muộn thì bị đơn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị đơn nhất trí với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với một phần tiền lãi và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và bị đơn sẽ chấp hành nghiêm chỉnh Bản án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính:

Đây là tranh chấp hợp đồng bảo lãnh giữa hai pháp nhân với nhau nên Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý vụ án kinh doanh thương mại theo thủ tục sơ thẩm và Tòa án nhân dân TP Hà Nội thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.

Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ.

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và tiến hành phiên tòa. Thư ký đã làm đầy đủ nhiệm vụ và phổ biến nội quy phiên tòa. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đã được tranh luận và trình bày căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn: nguyên đơn và bị đơn đều công nhận việc ký kết các hợp đồng bảo lãnh là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên toà xét xử phúc thẩm, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện và bị đơn nhất trí với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn.

Về án phí, các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi và tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của các đương sự, Luật sư, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

đây là tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh, bị đơn có trụ sở tại quận H nên theo quy định tại các điều 30, 35, 38 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án nhân dân TP Hà Nội giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định pháp luật.

Nguyên đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Do vậy, kháng cáo của nguyên đơn là hợp lệ.

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng và tiền bảo lãnh tạm ứng là 4.687.809.835 đồng và số tiền lãi tính từ ngày Bản án hình sự phúc thẩm số 314/2018/HSPT ngày 23/5/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có hiệu lực với mức lãi suất là 9%/năm là 2.258.625.308 đồng. Tổng cộng nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán cả gốc và lãi là 6.946.435.143 đồng, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở vì việc bảo lãnh của bị đơn do người có thẩm quyền của bị đơn ký đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự năm 2005 về bảo lãnh. Công ty T4 đã vi phạm nghĩa vụ khi thực hiện Hợp đồng kinh tế số 199/HĐ- XL với nguyên đơn. Bộ G đã yêu cầu nguyên đơn chấm dứt hợp đồng với Công ty T4 và thu hồi bảo lãnh trả cho ngân sách Nhà nước.

Sau khi nguyên đơn có văn bản yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền bảo lãnh, bị đơn có văn bản phản hồi là bị đơn sẽ thanh toán số tiền bảo lãnh khi có kết quả xét xử vụ án hình sự liên quan đến Công ty T4. Sau khi có kết quả xét xử vụ án hình sự, bị đơn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nguyên đơn phải khởi kiện bị đơn ra Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm. Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là trái quy định của pháp luật nên cần phải rút kinh nghiệm về vấn đề này.

Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải trả ngay số tiền 6.946.435.143 đồng mà nguyên đơn đưa ra tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn. Do đó, kể từ ngày Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn có yêu cầu thi hành án mà bị đơn không tự nguyện thi hành án, thì bị đơn phải chịu lãi của số tiền 6.977.804.939 đồng theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.

Do sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nên Hội đồng xét xử sửa lại phần án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • - Căn cứ vào các điều 30, 35, 39, 147, 300, 306, 308, 309 và 313 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ vào khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thương vụ quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ban Q1.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ban quản lý dự án 7 đối với số tiền lãi tính từ ngày 16/3/2010 đến ngày 23/5/2018.
  3. Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 41/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
  4. Buộc Ngân hàng TMCP Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ban Q1 số tiền theo các Bảo lãnh thực hiện hợp đồng số 22036.00.00.56343 ngày 15/01/2008 và Bảo lãnh tạm ứng số 22036.00.00.56398 ngày 15/01/2008 với tổng số tiền nợ gốc là 4.687.809.835 (bốn tỷ, sáu trăm tám mươi bảy triệu, tám trăm linh chín nghìn, tám trăm ba mươi năm) đồng và số tiền lãi là 2.258.625.308 (hai tỷ, hai trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi năm nghìn, ba trăm linh tám) đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 6.946.435.143 (sáu tỷ, chín tăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm ba mươi năm nghìn, một trăm bốn mươi ba) đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và Ban Q1 có yêu cầu thi hành án mà Ngân hàng TMCP Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ban Q1 số tiền 6.946.435.143 (sáu tỷ, chín tăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm ba mươi năm nghìn, một trăm bốn mươi ba) đồng thì Ngân hàng TMCP Đ phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong khoản tiền này.

  1. Về án phí:

    a. Án phí sơ thẩm:

    • - Hoàn trả Ban quản lý dự án 7 số tiền 59.125.879 (năm mươi chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm bảy mươi chín) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 52187 ngày 22/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận H.
    • - Ngân hàng TMCP Đ phải chịu 114.946.435 (một trăm mười bốn triệu, chín trăm bốn mươi sáu nghìn, bốn trăm ba mươi năm) đồng.

    b. Án phí phúc thẩm:

    • - Hoàn trả Ban quản lý dự án 7 số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 52588 ngày 06/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận H.
  2. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm xử công khai và có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Lưu HS, VP, HCTP, TKT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 265/2024/KDTM-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng bảo lãnh

  • Số bản án: 265/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kinh tế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger