Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2024/HS-ST

Ngày: 29-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Thanh Nhàn.
  2. Ông Lê Thành Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 282/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

- Bùi Thị Tuyết M, sinh năm 2003; hộ khẩu thường trú: Số C, đường H Ông, phố V, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Tổ C, ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn B, sinh năm 1986 và bà Phạm Thị Mỹ C, sinh năm 1974; bị cáo có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; ngày 23/12/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ông Lại Văn B1, sinh năm 1960 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của ông B1:

  • Bà Bùi Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: Khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vợ).
  • Bà Lại Thị D, sinh năm 1984; địa chỉ: Khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (con ruột).
  • Bà Lại Thị D1, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang (con ruột).
  • Bà Lại Thị C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu V T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (con ruột).
  • Ông Lại Thành N, sinh năm 1992; địa chỉ: Số F khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (con ruột).

Bà T, bà D, bà C1 ủy quyền cho ông Lai Thành N1, sinh năm 1992; địa chỉ: Số F khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 23/10/2023). Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Mỹ C, sinh năm 1974; địa chỉ: Số C, phố V, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị Tuyết M là con ruột của bà Phạm Thị Mỹ C và là em chồng của chị Nguyễn Trương Ngọc L. Sáng ngày 16/8/2023, chị L nhờ bà C chiều ngày 16/8/2023 đi đón cháu Bùi Nguyễn Gia L1, sinh ngày 04/01/2019 là con của chị L, chở từ trường mầm non tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương về nhà của bà C ở xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương giúp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, M thấy bà C có công việc chưa về kịp để đón cháu L1 thì M tự ý lấy xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 35B2 - 344.92 của bà C đi đón cháu L1.

Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, khi M điều khiển xe môtô biển số 35B2 - 344.92 chở cháu L1 ngồi phía sau về đến đoạn đường Q thuộc khu phố B, phường M, thị xã (nay là thành phố) B, hướng từ phường T đến, M điều khiển xe chạy trên làn đường ô tô tải. Lúc này, do không chú ý quan sát nên M đã điều khiển xe va chạm với xe đạp do ông Lại Văn B1, sinh năm 1960, địa chỉ thường trú: Khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang chạy phía trước cùng chiều đang chuyển hướng từ lề phải ra đến làn đường ô tô tải, gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm ông B1 bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh B rồi chuyển đến Bệnh viện C2, Thành phố Hồ Chí Minh, còn M và cháu L1 bị trầy xước nhẹ. Đến ngày 30/8/2023, ông B1 tử vong và được gia đình đưa về quê tại tỉnh An Giang mai táng.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:

  • Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có dải phân cách cố định chia đường thành hai chiều xe chạy. Vị trí hiện trường nằm bên phần đường bên phải theo hướng từ phường T đến phường M, có vạch sơn chia phần đường thành các làn đường: Dành cho xe mô tô rộng 3m, dành cho xe ô tô tải rộng 3,6m, dành cho xe ô tô con rộng 4,2m
  • Lấy mép đường bên phải Quốc lộ A theo hướng từ phường T đến phường M làm lề chuẩn.
  • Xe đạp nằm trên phần đường dành cho xe ô tô con, ngã nghiêng sang bên phải, đầu xe hướng vào lề chuẩn, trục bánh trước cách lề chuẩn 7,2m, trục sau trước cách lề chuẩn 7,9m. Xe để lại vết cày của chân chống xe đạp có dạng đường thẳng đứt quãng dài 4,7m. Điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 7,9m, điểm cuối vết cày cách điểm mốc là 6,2m.
  • Vết cày của xe mô tô biển số 35B2 - 344.92 có dạng đường thẳng đứt quãng. Điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 7,7m, cách điểm đầu vết cày của chân chống xe đạp 2,4m. Điểm cuối của vết cày cách mép chuẩn 5,6m.

Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện:

  • Xe mô tô biển số 35B2 - 344.92: Bị trầy xước sơn, nứt bể dè trước. Trầy xước sơn trên má ngoài yếm chắn gió bên trái. Trầy xước sơn bên cạnh gác chân trước bên trái. Mài mòn cạnh gác chân sau bên trái.
  • Xe đạp: Bị gãy rời yên xe. Cong vênh chắn bùn bánh sau từ sau về trước. Cong vênh bánh sau từ sau về trước. Mài mòn đầu cao su bàn đạp bên phải. Mài mòn góc phải chân chống đứng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 35B2 - 344.92, 01 xe đạp màu hồng và 01 thẻ nhớ Micro S HC 08GB.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số: 561/2023/KLGĐ-TTPY ngày 29/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận: Ông Lại Văn B1 bị chấn thương sọ não mức độ nặng, không hồi phục sau điều trị cấp cứu, dập xuất huyết não lan tỏa hai bán cầu, chèn ép não gây ngưng tim, ngưng thở dẫn đến tử vong.

Quá trình điều tra, Bùi Thị Tuyết M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của M phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. M khai tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông ngày 16/8/2023, M chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 284/CT-VKSBC ngày 11/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bùi Thị Tuyết M về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Thị Tuyết M về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thị Tuyết M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là 05 (năm) năm.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 29/10/2023, bị cáo Bùi Thị Tuyết M đã bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình nạn nhân Lại Văn B1 số tiền 54.000.000 đồng. Ông N1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm về phần trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với cháu Bùi Nguyễn Gia L1 chỉ bị trầy xước nhẹ nên anh Bùi Văn V, sinh năm 1993, địa chỉ thường trú: Số C, phố V, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và chị Nguyễn Trương Ngọc L là cha mẹ ruột của cháu L1 không yêu cầu giải quyết gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phần tranh luận, bị cáo Bùi Thị Tuyết M không có ý kiến tranh luận, bị cáo M thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng số 284/CT-VKSBC ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Mỹ C không có ý kiến tranh luận.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố B trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Tuyết M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 16/8/2023, tại đoạn đường Q thuộc khu phố B, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, bị cáo Bùi Thị Tuyết M khi không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 35B2 - 344.92 điều khiển xe không đúng làn đường, không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông làm bị hại ông Lại Văn B1 tử vong.

Hành vi điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe không đúng làn đường quy định không đảm bảo an toàn của bị cáo là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông là vi phạm Điều 9 và Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả xảy ra làm bị hại Lại Văn B1 tử vong nên đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [3.1] Về tính chất: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sự an toàn của các phương tiện lưu thông trên đường, tính mạng của bị hại, gây lo lắng cho mỗi quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, phương tiện giao thông gia tăng nhiều về số lượng, chủng loại, vì vậy mỗi người khi tham gia giao thông phải có ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định để đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Bị cáo điều khiển xe khi không có giấy phép lái xe, điều khiển xe không đúng làn đường quy định là nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng làm chết người. Do đó, cần xem xét mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
  • [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện bồi thường về phần trách nhiệm dân sự cho người đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện gia đình bị hại đã làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại Bùi Văn K và bà ngoại Bùi Thị S là người có công với cách mạng nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểmb, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • [3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 29/10/2023, bị cáo Bùi Thị Tuyết M đã bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình nạn nhân Lại Văn B1 số tiền 54.000.000 đồng. Ông N1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với cháu Bùi Nguyễn Gia L1 chỉ bị trầy xước nhẹ nên anh Bùi Văn V và chị Nguyễn Trương Ngọc L là cha mẹ của cháu L1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Xét thấy bị cáo M có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tính tiết giảm nhẹ, việc bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, an toàn xã hội. Do đó căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo M cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ răn đe và giáo dục đối với các bị cáo M.

[5] Về xử lý vật chứng: Ngày 10/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 35B2 - 344.92 cho bà Phạm Thị Mỹ C và giao trả xe đạp cho anh Lại Thành N là người đại diện hợp pháp của bị hại B1 là phù hợp và đúng theo quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt và đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Tuyết M phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thị Tuyết M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/10/2024).

    Giao bị cáo Bùi Thị Tuyết M cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
  3. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 141/2024/HSST-LCCT ngày 11/10/2024 đối với bị cáo Bùi Thị Tuyết M kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Thị Tuyết M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - UBND xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - CA thành phố Bến Cát;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 265/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 265/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo M phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger