Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 265/2024/DS-ST

Ngày 28 - 8 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

cầm cố tài sản.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Khởi

Bà Đoàn Thị Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương - Là Thư ký Tòa án nhân dân Thành phô Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2024/QĐXXST-DS ngày 18/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Sawad T (viết tắt là Công ty). Địa chỉ: Số A, đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hồ Ngọc Q-chức vụ: Nhân viên của Công ty Cổ phần Sawad T. (vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thúy L, sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: Số K, đường L khóm H, Phường P, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Hồ Ngọc Q trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Vào ngày 07/11/2020, giữa Công ty Cổ phần Sawad T với bà Nguyễn Thúy L ký hợp đồng cầm cố tài sản số CMM201101006NA12X ngày 07/11/2020, nội dung bà L cầm cố cho Công ty 01 xe mô tô hai bánh BKS: 69C1-144.38; Loại xe: YAMAHA Nouvo 125cc; Màu: White; Số khung: DB10CY066590; Số máy: 1DB1-066523; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016890 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 20/07/2012 với số tiền là 5.900.000 đồng; thời hạn cầm cố là 06 tháng (từ ngày 07/11/2020 đến ngày 07/5/2021) với mức lãi suất là 1,1%/tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà L. Do nhu cầu sử dụng xe đi lại hàng ngày nên Công ty cho bà Nguyễn Thúy L mượn lại xe sử dụng, việc mượn xe các bên có ký Giấy mượn xe, theo Giấy mượn xe thỏa thuận thời hạn mượn xe từ 07/11/2020 đến 07/05/2021. Bà L cam kết hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã thanh toán cho Công ty được 1.200.000 đồng, trong đó tiền gốc 830.000 đồng, tiền lãi 130.000 đồng; phí trễ hạn 240.000 đồng. Đến ngày 07/01/2021, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Công ty, bà L không tiếp tục thanh toán nợ và cũng không trả lại xe mô tô nêu trên cho Công ty, còn nợ Công ty số tiền 7.505.000 đồng tính từ ngày 07/01/2021 đến ngày 28/8/2024, trong đó nợ gốc: 5.070.000 đồng; Lãi: 2.435.000 đồng. Công ty đã nhiều lần yêu cầu bà Nguyễn Thúy L thanh toán nợ nhưng bà Nguyễn Thúy L không thanh toán.

Nguyên đơn yêu cầu buộc bà Nguyễn Thúy L thanh toán số tiền 7.505.000 đồng, trong đó nợ gốc: 5.070.000 đồng; Lãi: 2.435.000 đồng. Ngoài ra, Công ty không yêu cầu bà L thanh toán thêm khoản nào khác.

Yêu cầu bà L tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 29/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Công ty.

Đối với tài sản cầm cố là xe mô tô biển số: 69C1- 144.38, Loại xe: HONDA YAMAHA Nouvo 125cc, Số khung: DB10CY066590 Số máy: 1DB1- 066523, đứng tên Nguyễn Thúy L. Trường hợp bà L thanh toán xong khoản nợ nêu trên thì Công ty trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe bản chính cho bà L. Công ty không yêu cầu xử lý tài sản cầm cố trong trường hợp bà L không thanh toán khoản nợ nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thúy L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo cho bà L đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập, để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà L vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp cầm cố tài sản.

[2] Bà Nguyễn Thúy L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng bà L vẫn vắng mặt không rõ lý do, ông Hồ Ngọc Q xin vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với ông Q và bà L.

[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thúy L trả tiền cầm cố tài sản và các khoản lãi, phí phát sinh. Hội đồng xét xử xét thấy, Công ty cổ phần Sawad T nhận cầm cố chiếc xe mô tô xe mô tô biển số: 69C1- 144.38, Loại xe: HONDA YAMAHA Nouvo 125cc, Số khung: DB10CY066590 Số máy: 1DB1- 066523, đứng tên Nguyễn Thúy L với số tiền 5.900.000 đồng với mức lãi suất 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn thời hạn 06 tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên các bên phải có nghĩa vụ thực hiện. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã thanh toán được 1.200.000 đồng thì ngưng không tiếp tục thanh toán theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Công ty yêu cầu bà L thanh toán các khoản nợ, tính từ ngày 07/01/2021 đến ngày xét xử vụ án (28/8/2024) số tiền 7.505.000 đồng, trong đó nợ gốc: 5.070.000 đồng; Lãi: 2.435.000 đồng. Ngoài ra Công ty không yêu cầu bà L thanh toán thêm khoản tiền nào khác. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 7.505.000 đồng.

[4] Đối với tài sản cầm cố là xe mô tô biển số: 69C1- 144.38, Loại xe: HONDA YAMAHA Nouvo 125cc, Số khung: DB10CY066590 Số máy: 1DB1- 066523, đứng tên Nguyễn Thúy L. Xét thấy, đây là tài sản bà L cầm cố cho nguyên đơn theo hợp đồng cầm cố ngày 07/11/2020; Theo thỏa thuận tại phụ lục hợp đồng cầm cố thì trường hợp người cầm cố không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Công ty có quyền yêu cầu xử xý tài sản theo quy định để thu hồi nợ. Tuy nhiên, nguyên đơn xác định không yêu cầu xử lý tài sản trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ. Do đó, sau khi bà L thanh toán xong khoản nợ, thì buộc nguyên đơn trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe bản chính cho bà L là có căn cứ.

[6] Án phí dân sự sở thẩm: Bị đơn phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 309, 310, 316 của Bộ luật dân sự; Các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad T, về việc yêu cầu bà Nguyễn Thúy L thanh toán tiền nợ cầm cố tài sản.

Buộc bà Nguyễn Thúy L thanh toán cho Công ty cổ phần Sawad T số tiền 7.505.000 đồng, trong đó nợ gốc 5.070.000 đồng; nợ lãi: 2.435.000 đồng.

Buộc bà Nguyễn Thúy L tiếp tục trả khoản lãi phát sinh cho nguyên đơn với mức lãi suất theo hợp đồng cầm cố ngày 07/11/2020 từ ngày 29/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Sau khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ, thì buộc nguyên đơn trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe bản chính đứng tên Nguyễn Thúy L cho bị đơn.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thúy L phải nộp 375.000 đồng (chưa nộp), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền. Công ty cổ phần Sawad T không phải nộp án phí, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 379.000 đồng theo biên lai thu số 0008286 ngày 21/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ - án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Ngọc Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 265/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 265/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger