|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 265/2024/HS-ST Ngày: 24/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Hùng
Ông Nguyễn Đăng Thúy.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 279/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
Lê Xuân D, sinh năm 1967 (Tên gọi khác: không)
Nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T (đã chết) và bà Lê Thị C (đã chết); Gia đình bị cáo có 08 chị em, bị cáo là con thứ 6; vợ Nguyễn Thị N, có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2002 .
Tiền án: Có 02 tiền án
+ Tại Bản án số 179/2017/HSST ngày 23/06/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T) tỉnh Bắc Ninh xử phạt Lê Xuân D 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đã chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 24/3/2018.
+ Tại Bản án số 154/2020/HSST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T) tỉnh Bắc Ninh xử phạt Lê Xuân D 32 tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đã chấp hành xong toàn bộ Bản án ngày 19/7/2022.
2
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 21/5/2024, D đi bộ từ nhà tại khu phố P, phường P đến khu phố C, phường Đ, thành phố T để tìm mua ma túy bán kiếm lời. Khi đi đến khu vực rìa đường khu phố C, phường Đ, D gặp và mua của một người nam thanh niên không quen biết 2.000.000 đồng tiền ma tuý Heroine, được 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 gói nhỏ ma túy bọc ngoài bằng giấy màu vàng. Sau đó, D cất số ma túy vừa mua vào trong túi quần bên phải phía trước D đang mặc, rồi đi bộ về nhà D. Khi về đến nhà, D đi vào bếp bỏ 01 gói ma túy ra dùng tay chia nhỏ chất ma túy thành 06 phần nhỏ, rồi dùng 06 mảnh giấy màu trắng gói lại thành 06 gói ma túy. Doanh cất 06 gói ma túy bọc ngoài bằng giấy màu trắng cùng 03 gói ma túy bọc ngoài bằng giấy màu vàng vào trong 01 túi nilon màu trắng và cất vào trong túi quần D đang mặc rồi đi ngủ. Đến khoảng 12 giờ trưa ngày 21/5/2024, D mang số ma túy trên đi ra đứng ở rìa đường ngoài ngõ gần nhà D xem có ai mua thì bán kiếm lời. Khoảng 05 phút sau, có 01 người nam thanh niên đi 01 xe mô tô (Doanh không rõ biển kiểm soát) đến chỗ D và hỏi mua của D 400.000 đồng ma túy, D đồng ý. Người thanh niên đưa cho D 02 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng, D cầm tiền cất vào túi quần D đang mặc và đưa cho người thanh niên 02 gói ma túy bọc ngoài bằng giấy màu trắng, người thanh niên cầm 02 gói ma túy và rời đi. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày khi D đang đi bộ ở rìa đường khu phố P để bán ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước Doanh đang mặc: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 07 gói ma túy (Trong đó: 04 gói bọc ngoài là giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng; 02 gói bọc ngoài là giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 gói bọc ngoài là giấy màu vàng, bên trong là 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon chứa chất bột màu trắng).
- Số tiền 400.000 đồng (gồm 02 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng) của D
Tại Kết luận giám định số 1238 ngày 23/5/2024 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chất bột màu trắng trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 2,0091 gam là ma túy Heroine”
3
Tại Bản Cáo trạng số 197/CT-VKSTS ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố bị cáo Lê Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu và nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân D từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/5/2024.
Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định; Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn.
Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 21/5/2024, Lê Xuân D có mua 2.000.000 đồng của một
4
thanh niên không quen biết ở khu phố C, phường Đ, thành phố T được 04 gói ma túy. Bị cáo mang ma túy về nhà và lấy 01 gói ma túy ra chia nhỏ thành 06 gói. Sau đó, khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, tại khu phố P, phường P bị cáo đã bán cho một người thanh niên không quen biết 02 gói ma túy được 400.000 đồng. Số ma túy còn lại trong 07 gói có khối lượng là 2,0091 gam là ma túy Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để bán kiếm lời. Do vậy, hành vi của bị cáo Lê Xuân D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, tại bản án số 154/HSST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố T) xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét thấy bị cáo đã 02 lần bị xét xử về loại tội phạm này, đã chấp hành xong toàn bộ bản án nhưng chưa được xóa án tích. Bản thân bị cáo nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cần phải xử phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[6] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo D có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng, vợ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng:
5
[7.1] Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K Công an tỉnh B là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[7.2] Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo D là tiền do bán ma túy mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[8] Liên quan trong vụ án, còn có: Đối với những người nam thanh niên bán ma túy cho D tại khu vực rìa đường khu phố Chùa D2 và mua ma túy của D tại đầu ngõ N thuộc khu phố P ngày 21/5/2024, do D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo Lê Xuân D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Áp dụng: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Xuân D 08 ( tám) năm 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/5/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Lê Xuân D 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1 Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định;
3.2 Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lê Xuân D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 265/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 265/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
