Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265 /2023/HNGĐ-ST

Ngày: 22/8/2023.

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng

Bà Nguyễn Thị Bích Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 198/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/5/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 218/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Mạc Đức T1, sinh năm 1983,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Mạc Đức T2, sinh năm 1949, địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Chị T, anh T1 và ông T2 đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Mạc Đức T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 16/02/2011 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới, chị và anh T1 tổ chức cuộc sống chung tại gia đình nhà chồng tại xã A, huyện N. Năm 2018, chị và anh T1 lần lượt đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng không làm việc cùng nhau. Do thời gian làm việc khác nhau nên vợ chồng không có điều kiện quan tâm, chăm sóc dẫn đến nghi ngờ nhau về tình cảm. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2019 cho đến nay. Tháng 10/2022, chị về nước và không sang Đài Loan làm việc nữa, còn anh T1 vẫn tiếp tục ở lại Đài Loan làm việc. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

- Về con chung: Chị và anh T1 có 02 con chung là Mạc Đức T3, sinh ngày 30/9/2011 và Mạc Đức D, sinh ngày 31/7/2015, hiện hai cháu đang ở cùng gia đình anh T1. Cháu T3 bị câm điếc bẩm sinh, cháu D phát triển bình thường, hai cháu đang ở ổn định cùng ông bà nội từ khi vợ chồng đi nước ngoài, công việc của chị bận không đảm bảo việc chăm sóc con chung. Chị và anh T1 thống nhất để anh T1 được chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi trưởng thành. Anh T1 không yêu cầu chị cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung, chị đồng ý. Anh T1 đang làm việc tại Đài Loan, anh T1 nhờ bố mẹ đẻ là ông Mạc Đức T2 và bà Phạm Thị Đ chăm sóc con chung trong thời gian anh T1 chưa về nước, chị nhất trí.

- Về tài sản chung, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh T1 tại Đài Loan nên Tòa án đã xác minh qua gia đình anh T1, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của anh T1. Ông Mạc Đức T2 là bố đẻ của anh T1 trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 như chị T trình bày là đúng. Hiện nay, anh T1 đang làm việc tại Đài Loan, sau khi nhận được thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng của Tòa án, ông đã thông báo cho anh T1 biết về việc chị T có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Quan điểm của anh T1 nhất trí ly hôn. Anh T1 xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Mạc Đức T3, sinh ngày 30/9/2011 và Mạc Đức D, sinh ngày 31/7/2015, cháu T3 khuyết tật câm điếc bẩm sinh được Nhà nước trợ cấp xã hội hàng tháng, còn cháu D phát triển bình thường, hai cháu đều đang do vợ chồng ông chăm sóc. Ly hôn anh T1 và chị T thống nhất để anh T1 được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh T1 tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Anh T1 đang ở nước ngoài, anh T1 nhờ ông thay anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng con chung trong thời gian anh T1 chưa về nước, ông nhất trí. Về tài sản chung, vay nợ: Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh T1 đang đi làm xa nên anh T1 xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa, các văn bản Tòa án gửi cho anh T1 đề nghị gửi cho ông và ông sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh T1 được biết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị T có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T2 có quan điểm xin vắng mặt; bị đơn anh T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Mạc Đức T1; Giao cháu Mạc Đức T3Mạc Đức D cho anh T1 nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tạm giao cháu T3, cháu D cho ông Mạc Đức T2 nuôi dưỡng giúp anh T1 cho đến khi anh T1 về Việt Nam; Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Mạc Đức T1. Anh T1 hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh T1 tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị T và gia đình anh T1 cung cấp địa chỉ nhưng chị T và gia đình anh T1 không cung cấp được. Ông T2 bố đẻ anh T1 xác định anh T1 vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, ông đã thông báo về việc chị T có đơn xin ly hôn, anh T1 không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T2 có quan điểm xin vắng mặt, anh T1 vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh T1 và ông T2.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Mạc Đức T1 được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 16/02/2011 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng sang Đài Loan làm việc nhưng sống xa cách dẫn đến nghi ngờ nhau về tình cảm. Tháng 10/2022, chị T về Việt Nam nhưng không về nhà anh T1 sinh sống, anh T1 vẫn đang tiếp tục làm việc tại Đài Loan. Chị T xác định vợ chồng đã sống ly thân, không còn tình cảm với anh T1 và có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình anh T1 có quan điểm nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị T. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị T, anh T1 có 02 con chung là Mạc Đức T3, sinh ngày 30/9/2011 và Mạc Đức D, sinh ngày 31/7/2015. Cháu T3 khuyết tật câm điếc bẩm sinh, cháu D phát triển bình thường, hai cháu đang ở cùng bố mẹ đẻ của anh T1. Chị T và anh T1 thống nhất để anh T1 được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành, chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh T1. Anh T1 hiện chưa về nước có đề nghị ông Mạc Đức T2 (là bố đẻ anh T1) chăm sóc hai cháu cho đến khi anh về nước, ông T2 nhất trí. Do vậy, tạm giao cháu Mạc Đức T3Mạc Đức D cho ông T2 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh T1 về Việt Nam trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Mạc Đức T1.
  2. Về con chung: Giao cho anh Mạc Đức T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Mạc Đức T3, sinh ngày 30/9/2011 và Mạc Đức D, sinh ngày 31/7/2015, thời gian từ tháng 8/2023 cho đến khi con chung trưởng thành. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh T1.

Tạm giao cháu Mạc Đức T3 và cháu Mạc Đức D cho ông Mạc Đức T2 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T1 không ở Việt Nam.

Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000166 ngày 15/5/2023 (chị T đã nộp đủ án phí).
  2. Về quyền kháng cáo: Chị T, ông T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã A, huyện N (để ghi vào sổ ĐKKH ngày 16/02/2011);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 265/2023/HNGĐ-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 265/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trang xin ly hôn và giải quyết nuôi con chung Mạc Đức Thông
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger