TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 265/2024/DS-PT Ngày 12 tháng 11 năm 2024 V/v: “Hợp đồng dịch vụ tưới tiêu”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Hai, ông Đào Chí Keo.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 204/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024; tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ tưới tiêu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 93/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Châu Phú bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 278/2024/QĐXXPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Hợp tác xã N; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1962; cư trú tại: tổ E, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, sinh năm 1947; cư trú tại: Tổ A, ấp L, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người đại diên theo pháp luật: Ông Lê Văn D, sinh năm 1971- chức vụ: Giám đốc (có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn có ông Phan Văn B, năm 1970, nơi cư trú: Số A, Quốc lộ I, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, theo văn bản ủy quyền lập ngày 17/10/2024 của Văn phòng công chứng Nguyễn Công T. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn là ông Lê Văn D trình bày:
Hợp tác xã N (gọi tắt là Hợp tác xã) phục vụ tưới tiêu trong tiểu vùng Tây kênh 10 – Đông kênh 11 – Nam V – Bắc kênh 10 thuộc ấp B, xã T. Ông K có thuê diện tích đất nông nghiệp 64.998m² tọa lạc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang của ông Trần Văn H nằm trong tiểu vùng do Hợp tác xã phục vụ. Theo thỏa thuận mức thu phục vụ tưới, tiêu là 410.000đồng/1.000m²/năm; cụ thể: vụ Đ 130.000đ/1.000m², vụ Hè Thu 130.000đ/1.000m², vụ Thu Đ 150.000đ/1.000m²; tuy nhiên từ vụ Đông Xuân năm 2020 đến vụ Đông Xuân năm 2023 ông K không trả tiền phục vụ tưới, tiêu cho Hợp tác xã. Nay, Hợp tác xã khởi kiện yêu cầu ông K phải có nghĩa vụ trả số tiền 88.397.280đ.
Bị đơn ông Lê Văn K trình bày tại bản tự khai ngày 19/01/2024: Năm 2012 được sự đồng ý của UBND xã T, Tổ hợp tác tưới tiêu Đồng Thuận được thành lập gồm 04 thành viên: Trần Huệ H1, Lê Văn K, Lê Văn D và Nguyễn Văn T1, theo quy định mỗi thành viên góp vốn 140.000.000đ. Tổ hợp tác tưới tiêu Đồng Thuận hoạt động từ năm 2012 đến năm 2017 thì tạm ngưng và chuyển sang hình thức mỗi tổ viên hoạt động 02 năm. Theo thỏa thuận thì ông K là người sử dụng lần đầu và ông K hoạt động được một năm, thì tổ viên Lê Văn D yêu cầu ông K ra khỏi tổ hợp tác và phải bàn giao lại cho T2 hợp tác. Ông K đồng ý với điều kiện phải hoàn vốn và phải chịu tiền sử dụng mương nước của ông K. Tuy nhiên, sau khi thỏa thuận từ năm 2018 đến năm 2021 Tổ hợp tác vẫn không thanh toán tiền, ông K làm đơn yêu cầu và được UBND xã T giải quyết buộc Tổ hợp tác trả lại tiền cho ông K, đến tháng 10 năm 2021 Tổ hợp tác mới trả cho ông K số tiền 70.000.000 đồng, phần còn lại đến nay vẫn chưa thanh toán.
Trong quá trình sử dụng đường nước, từ năm 2012 đến năm 2016 tổ hợp tác tưới tiêu Đ với ông Trần Văn H có thỏa thuận, tổ hợp tác sử dụng mương nước của ông H thì phải có nghĩa vụ cung cấp nước cho ông H tưới, tiêu 50 công lúa 03 vụ. Năm 2016, ông H bán lại mương nước cho ông K với giá 01 cây vàng 24kara, khi ông K nhận mương nước thì Tổ hợp tác với ông K tiếp tục thỏa thuận sử dụng mương nước của ông K, ông K được quyền bơm nước từ mương nước lên ruộng.
Nay Hợp tác xã khởi kiện yêu cầu ông trả tiền phục tưới, tiêu 88.397.280đ là không có căn cứ, vì Hợp tác xã không bơm nước trực tiếp vào ruộng cho ông, ông đã lấy nước từ mương nước của ông vào ruộng. Mặc khác, Hợp tác xN cũng đồng ý sử dụng mương nước của ông để phục vụ cho các hộ dân phía trong.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú đã xử:
3
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã N về việc yêu cầu ông Lê Văn K trả tiền phục vụ tưới, tiêu.
Buộc ông Lê Văn K có nghĩa vụ trả cho Hợp tác xã N số tiền 88.128.000đ (tám mươi tám triệu một trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn K phải chịu 4.406.000đ (bốn triệu bốn trăm lẻ sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Hợp tác xã N tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015352 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Ngoài ra, bản án còn tuyên chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;
Ngày 14/5/2024, bị đơn ông Lê Văn K kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn buộc ông trả tiền tưới tiêu.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự xác định không cung cấp chứng cứ mới.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa, để xem xét thẩm định đất ông K thuê của ông H có 34 công thuộc trường hợp bơm nước tưới tiêu cấp 2, chứ không như Hợp tác xã khai toàn bộ diện tích 50 công là bơm nước cấp 1.
Nguyên đơn Hợp tác xã không đồng ý với yêu cầu tạm ngừng phiên tòa, vì cho rằng HTX tưới tiêu cho nông dân bao trọn toàn bộ là cấp 1, nếu có trường hợp nào cấp 2 thì HTX cũng trang bị máy dầu để bơm lên cho người dân, nên tính tất cả như cấp 1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật;
- - Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, qua tranh tụng của đương sự tại phiên tòa, bị đơn không cung cấp chứng cứ mới; cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; tuy nhiên ở phúc thẩm ông K có đơn xin miễn án phí thuộc người cao tuổi, nên nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị đơn về miễn án phí, các phần quyết định còn lại giữ y bản án sơ thẩm.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Lê Văn K kháng cáo hợp lệ, Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung.
[3] Nội dung vụ án: Hợp tác xã N (gọi tắt HTX) được thành lập vào năm 2020 và có đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, một trong những ngành nghề kinh doanh của HTX là hoạt động dịch vụ bơm tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. HTX được Ủy ban nhân dân xã T cho phép hoạt động bơm tưới, tiêu trong tiểu vùng đê bao khép kín đoạn từ Tây kênh 10 – Đông kênh 11 – Nam V – Bắc kênh 10 thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. HTX với chính quyền địa phương có họp dân và được người dân thống nhất sử dụng dịch vụ của HTX để thực hiện việc tưới tiêu với những người dân có đất nằm trong tiểu vùng phục vụ tưới, tiêu. Tại biên bản Thẩm định tại chỗ ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thống nhất kết quả Thẩm định và xác định ông K có thuê đất của ông Trần Văn H từ năm 2016 đến năm 2023; ông K thống nhất sử dụng dịch vụ và thống nhất chi phí phục vụ do Hợp tác xã cung cấp vì vậy giữa ông K với Hợp tác xã đã phát sinh hợp đồng dịch vụ; Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119 và Điều 513 của Bộ luật Dân sự thì quan hệ giao dịch tưới tiêu giữa HTX với ông Lê Văn K là phù hợp pháp luật.
[4] Ông K cho rằng Mương T do ông nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn H vào ngày 25/7/2016 (âm lịch), ông K được quyền sử dụng nguồn nước từ Mương T; HTX đã thỏa thuận với ông sẽ dùng Mương Tư Thông để bơm nước phục vụ tưới, tiêu cho các hộ dân có đất phía trong nên ông không phải trả tiền phục vụ tưới tiêu; chứng cứ chứng minh Mương Tư Thông thuộc quyền sử dụng của cá nhân ông là đơn xác nhận của ông Trần Văn H và 02 tờ tường trình có chữ ký xác nhận của người dân đã sử dụng Mương Tư Thông.
Xét thấy, đơn xác nhận của ông Trần Văn H và 02 tờ tường trình do ông K cung cấp không thể hiện Mương Tư Thông thuộc quyền sử dụng riêng của cá nhân ông K. Ngoài lời trình bày nêu trên thì ông K không còn chứng cứ nào khác để chứng minh Mương Tư Thông thuộc quyền sử dụng riêng của ông. HTX không thừa nhận việc đã thỏa thuận thuê Mương Tư Thông của ông K thì ông K không phải trả tiền phục vụ tưới, tiêu; ông K không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét. Ngoài ra, tại biên bản làm việc ngày 21/5/2020 của Ủy ban nhân dân xã T, biên bản xác minh ngày 03/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú và Công văn số 283/UBND-VP ngày 19/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã T đều thể hiện Mương Tư Thông là mương nước công cộng do UBND xã T quản lý. Ông K đã sử dụng dịch vụ tưới, tiêu do HTX cung cấp và chưa trả cho Hợp tác xã chi phí phục vụ tưới, tiêu từ vụ Đông Xuân năm 2020 đến vụ Đông Xuân năm 2023 đối với tổng diện tích 64.800m². Vì vậy, việc HTX khởi kiện yêu cầu ông K trả
5
tiền dịch vụ tưới, tiêu từ vụ Đông Xuân năm 2020 đến vụ Đông Xuân năm 2023 đối với tổng diện tích 64.800m² là có cở sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn yêu cầu ngừng phiên tòa để thẩm định lại việc sử dụng bơm nước tưới tiêu lên đất có 34 công thuộc bơm nước tưới tiêu cấp 2, chứ không phải HTX khai là toàn bộ diện tích 50 công thuộc bơm nước cấp 1. Xét thấy, suốt quá trình giải quyết vụ án ông K không đồng ý toàn bộ khởi kiện của nguyên đơn, chứ không nại vấn đề này hay có yêu cầu phản tố; đại diện theo ủy quyền của bị đơn không cung cấp chứng cứ mới, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ y án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát.
Các phần Quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân: Bị đơn Lê Văn K là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp án phí, căn cứ điểm đ khoản 12 Điều 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn K về việc xin miễn, giảm án phí.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 93/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về án phí dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã N về việc yêu cầu ông Lê Văn K trả tiền phục vụ tưới, tiêu.
Buộc ông Lê Văn K có nghĩa vụ trả cho Hợp tác xã N số tiền 88.128.000đ (tám mươi tám triệu một trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: ông Lê Văn K được miễn toàn bộ tiền án phí.
6
Trả lại Hợp tác xã N tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015352 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 265/2024/DS-PT ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hợp đồng dịch vụ tưới tiêu
- Số bản án: 265/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng dịch vụ tưới tiêu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HTX Bơ D kiện yêu cầu ông Kh trả tiền dịch vụ tưới tiêu
