|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 265/2024/HS-ST |
Ngày: 06/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Dương
Bà Nguyễn Ngọc Thủy
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 322/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 291/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với:
Trần Hữu S sinh năm 2000 Thành phố H đăng ký HKTT: 3 C, Phường A, Quận H, Thành phố H ở: 3 C, Phường A, Quận H, Thành phố H nghiệp: Không Trình độ học vấn: 07/12Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: KinhTôn giáo: Khôngông: Không rõCon bà: Trần Thị Thu T1, sinh năm 1965Có vợ là bà Đặng Lê Anh T2, sinh năm 2002Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 20/11/2018, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo Bản án số 65/2018/HS-ST ngày 20/11/2018.
Bị can bị bắt từ ngày 04/7/2024. (có mặt)
Bị hại: Anh Nguyễn Trần Nguyên Đ, sinh năm: 2000; Địa chỉ: I N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hộ kinh doanh cầm đồ Công Hương 9; Địa chỉ: E D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Đỗ Thị Minh D, sinh năm: 1974; Địa chỉ: E D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hộ kinh doanh L1; Địa chỉ: B Â, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn L, sinh năm: 1965; Địa chỉ: B Q, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hữu S và anh Nguyễn Trần Nguyên Đ là bạn bè. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, S và anh Đ ngồi uống cà phê tại trước địa chỉ số E đường số A, khu dân cư T, Ấp D, xã B, huyện B. Lúc này, S thấy anh Đ có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59X2-283.59 dựng phía trước và có 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A60 nên S nảy sinh ý định chiếm đoạt xe và điện thoại di động của anh Đ.
Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, S giả vờ hỏi mượn xe và điện thoại di động của anh Đ để đi mua đồ và được anh Đ đồng ý. Sau đó, S điều khiển xe mô tô biển số 59X2-283.59 đến Tiệm cầm đồ Công Hương 9, địa chỉ: E D, Phường A, Quận H. Tại đây, S cầm chiếc điện thoại di động của anh Đ cho chị Đỗ Thị Minh D với giá 2.000.000 đồng, hai bên có lập Hợp đồng cầm đồ. Cầm điện thoại xong, S bỏ trốn, không về nhà và đi lang thang ngoài đường để trốn tránh anh Đ. Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, S tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 59X2-283.59 đến Tiệm cầm đồ L, địa chỉ: B Â, Phường E, Quận A cầm cho anh Vũ Ngọc T3 với giá 2.000.000 đồng. Do S nói sẽ bổ sung giấy tờ xe sau nên anh T3 chưa lập Hợp đồng cầm cố. Sau đó, S tiếp tục đi lang thang, không về nhà để lẩn trốn. Anh Đ nhiều lần liên lạc với S nhưng không được. Biết S đã lừa đảo chiếm đoạt xe và điện thoại nên anh Đ đến Công an xã B trình báo sự việc trên. Đến ngày 01/7/2024, S về nhà tại địa chỉ: 3 C, Phường A, Quận H thì Cơ quan Công an đến đưa S về trụ sở để làm việc.
Kết luận định giá tài sản số 2704/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B xác định: tổng giá trị tài sản bị S lừa đảo chiếm đoạt là 9.200.000 đồng. Cụ thể:
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển số 59X2-283.59, số máy 1DB1002740, số khung DB10CY002735 có giá trị là 5.000.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A60, số Imei: 868800072020153 có giá trị là 4.200.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Hữu S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Đối với chị Đỗ Thị Minh D là đại diện Tiệm cầm đồ Công Hương 9 có hành vi nhận cầm điện thoại di động của S nhưng không biết chiếc điện thoại trên do S phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với anh Vũ Ngọc T3 là quản lý Tiệm cầm đồ L có hành vi nhận cầm cố mô tô biển số 59X2-283.59 không chính chủ của S nhưng không biết xe mô tô trên do S phạm tội mà có. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Công an Q xử lý hành vi của T4 cầm đồ L.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59X2-283.59, số máy 1DB1002740, số khung DB10CY002735, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 024888 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A60, số Imei: 868800072020153 của anh Nguyễn Trần Nguyên Đ: đã trả lại cho bà Trần Thị Thu N (người được anh Nguyễn Trần Nguyên Đ ủy quyền nhận tài sản).
- - 01 áo thun ngắn tay, 01 quần jean dài, 01 đôi dép Sang mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Trần Nguyên Đ không yêu cầu bồi thường do tài sản đã được thu hồi.
Ông Vũ Văn L (đại diện Hộ kinh doanh L) không yêu cầu Trần Hữu S bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cầm xe.
Chị Đỗ Thị Minh D (đại diện Hộ kinh doanh cầm đồ Công Hương 9) yêu cầu Trần Hữu S bồi thường số tiền 2.000.000 đồng mà S có được từ việc cầm điện thoại di động tại Hộ kinh doanh cầm đồ Công Hương 9.
Tại bản Cáo trạng số 310/CT-VKSBC ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố Trần Hữu S về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Hữu S thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, bị cáo không yêu cầu nhận lại các đồ vật đã bị thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Hữu S về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; để xử phạt bị cáo Trần Hữu S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo bồi thường cho H kinh doanh cầm đồ Công Hương 9 số tiền 2.000.000 đồng. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/6/2024 tại trước nhà số E đường số A, khu dân cư T, Ấp D, xã B, huyện B, TP ., Trần Hữu S đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 59X2-283.59 trị giá 5.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A60 trị giá 4.200.000 đồng của anh Nguyễn Trần Nguyên Đ, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 9.200.000 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Trần Hữu S đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sảnTội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1174Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Hữu S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59X2-283.59, số máy 1DB1002740, số khung DB10CY002735, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 024888 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A60, số Imei: 868800072020153 của anh Nguyễn Trần Nguyên Đ: Đã trả lại cho bà Trần Thị Thu N (người được anh Nguyễn Trần Nguyên Đ ủy quyền nhận tài sản).
- - 01 áo thun ngắn tay, 01 quần jean dài, 01 đôi dép thu giữ của Trần Hữu S, không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại các tài sản này nên tịch thu, tiêu hủy.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Trần Nguyên Đ không yêu cầu bồi thường do tài sản đã được thu hồi. Ông Vũ Văn L (đại diện Hộ kinh doanh L) không yêu cầu Trần Hữu S phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng có được từ việc cầm xe, do đó dành quyền khởi kiện cho Hộ kinh doanh L1 đối với bị cáo Trần Hữu S khi có yêu cầu. Chị Đỗ Thị Minh D (đại diện Hộ kinh doanh cầm đồ Công Hương 9) yêu cầu S bồi thường 2.000.000 đồng là số tiền mà S có được từ việc cầm điện thoại di động tại Hộ kinh doanh cầm đồ Công Hương 9, yêu cầu này là có cơ sở chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Hữu S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Trần Hữu S phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Áp dụng khoản 1174điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Hữu S: 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
Tịch thu, tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay, 01 quần jean dài, 01 đôi dép.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
Buộc bị cáo Trần Hữu S phải trả cho H kinh doanh cầm đồ Công Hương 9 số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Trần Hữu S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |
Bản án số 265/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 265/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu Sang
