TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 265/2024/HS-ST Ngày: 21/10/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Phương Lan
Bà Lê Thị Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 261/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 2003; ĐKNKTT : Thôn B, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính : Nam ; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch : Việt nam ; Con ông: Nguyễn Văn H1 và bà: Đỗ Thị H2; Tiền án, tiền sự: Không ; Bắt tạm giam: Ngày 28/8/2024 (Bị cáo có mặt).
Người bị hại: Anh Vũ Duy T; sinh năm 2002; Nơi ở: Số H, ngõ C, nghách 30/22/ Đ, phường P, quận B, Hà Nội. (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1982; Nơi ở: Số A ngõ A, N, phường M, quận B, Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/01/2024, Công an phường P, quận B nhận được đơn tố giác của anh Vũ Duy T (SN 2002; Trú tại: Xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương) trình báo về việc cho Nguyễn Văn H mượn chiếc xe máy Honda Airblade màu đỏ, đen Biển kiểm soát 34B3 – 796.84 tại ngõ C Đ, P, B, Hà Nội vào ngày 11/01/2024 nhưng không trả lại.
Ngày 18/01/2024, Công an phường P thu giữ tại cửa hàng cầm đồ của anh Hoàng Ngọc L (SN: 1982; Trú tại: TDP N, phường M,quận B, Hà Nội):
- - 01 xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 34B3 – 796.84;
- - 01 đăng ký xe máy số 226491 mang tên Vũ Đình K; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H (photo);
- - 01 giấy bán xe Honda Airblade BKS 34B3 – 796.84
Bản kết luận định giá tài sản số 102 ngày 13 tháng 03 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận:
- - 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, BKS: 34B3 - 796.74 đã qua sử dụng, số khung 6304FZ885793, số máy: JF63E1923533, đăng ký lần đầu năm 2018 (thu giữ được tài sản) có giá trị là 21.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 3902 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của V - Bộ C kết luận: Chữ ký, chữ viết trong giấy bán xe thu giữ tại cửa hàng cầm đồ xác định do Nguyễn Văn H viết ra.
Cơ quan CSĐT – Công an quận B có yêu cầu số 3531 ngày 06 tháng 6 năm 2024 đề nghị Ngân hàng T3 cung cấp thông tin giao dịch số tài khoản 19036755414013 trong ngày 11/01/2024. Ngân hàng T3 có công văn phúc đáp trả lời số tài khoản 19036755414013 là “Pham Thi T1” chuyển 16 triệu đồng đến tài khoản 868388888888 của “Nguyen Van H3".
Quá trình điều tra xác định:
Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn T2 (SN: 2004; Trú tại: Ngõ C Đ, P, B, Hà Nội) và anh Vũ Duy T là bạn cùng thuê phòng trọ tại số H ngách B Đ, phường P, quận B, Hà Nội. Khoảng 14 giờ ngày 11/01/2024, H hỏi mượn anh T chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, BKS: 34B3 - 796.74 để về quê ăn giỗ thì được anh T đồng ý. Sau đó, H tiếp tục xin anh T 50.000 đồng để đổ xăng, anh T đồng ý và bảo H mở ví ra để lấy tiền. Sau khi mượn được xe và đăng ký xe, H điều khiển xe về quê. H đi đến khu vực đường H, nghĩ đến việc cần tiền trả nợ và không có tiền tiêu sài, H nảy sinh ý định mang xe máy vừa mượn được của T đi cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau đó, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H điều khiển xe đến cửa hàng cầm đồ tại số D N, phường M, quận B, Hà Nội gặp chủ cửa hàng là anh Hoàng Ngọc L. Tại đây, H nói dối xe máy trên của bố mình và muốn cầm cố chiếc xe trên với giá 16.000.000 đồng. Anh L đồng ý và yêu cầu H viết giấy mua bán xe theo mẫu của cửa hàng. Sau khi H viết giấy bán xe xong, anh L đã chuyển 16 triệu đồng đến tài khoản 868388888888 của Nguyễn Văn H. Sau khi nhận được tiền, H đã sử dụng số tiền trên để tiêu sài cá nhân. Đến tối cùng ngày, H nhắn tin cho anh T nói đã mang xe máy của anh T đi cầm cố sau đó chặn liên lạc và bỏ đi. Đến ngày 16/01/2024, anh T không thấy H trả lại xe, liên lạc với H không được nên anh T đã làm đơn tố giác đến cơ quan công an phường P.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận B, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi như trên.
Đối với 01 xe máy Honda Airblade màu đỏ đen, BKS: 34B3 - 796.74 H mượn của anh T, cơ quan điều tra tiến hành xác minh chủ sở hữu đăng ký xe máy là anh Vũ Đình K (SN: 1965, Trú tại: xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương), anh K đã bán lại chiếc xe máy này cho anh Vũ Duy T vào năm 2021 với giá 36.000.000 đồng và nay không có đề nghị gì đối với chiếc xe máy trên.
Ngày 26/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận B đã ra Quyết định xử lí vật chứng số 2451 bằng hình thức trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, BKS: 34B3 – 796.74 cùng giấy tờ đăng ký xe cho chủ sở hữu là anh Vũ Duy T. anh T đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với anh Hoàng Ngọc L, là người nhận và lập hợp đồng cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, BKS: 34B3 - 796.74 từ Nguyễn Văn H, mặc dù anh L không biết chiếc xe máy này là do phạm tội mà có nên Công an quận B không xử lý. Tuy nhiên, anh L có hành vi "Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố" vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự quy định tại Điểm L, Khoản 3, Điều 12 Nghị định 144 của Chính Phủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B đã có Công văn số 2342 đề nghị Ủy ban nhân dân quận B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với vi phạm trên của anh L.
* Về trách nhiệm dân sự.
Anh Vũ Duy T đã nhận lại xe và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn H.
Anh Hoàng Ngọc L đã nhận số tiền bồi thường 16 triệu đồng từ gia đình H nên không có đề nghị gì khác.
Bản cáo trạng số 255/CT-VKS ngày 04/10/2024 Viện kiểm sát Quận B truy tố Nguyễn Văn H phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H như cáo trạng số 255/CT-VKS ngày 04/10/2024 và đề nghị áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 175; Điểm i,s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 bộ luật hình sự 2015; Xử phạt Nguyễn Văn H từ 8 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 16 tháng đến 24 tháng. Bị cáo phải chịu án phí hính sự sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
[3] Những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 11/01/2024, tại số H ngách B Đ, phường P, quận B, Hà Nội, Nguyễn Văn H mượn xe máy Honda Airblade, BKS: 34B3 - 796.74 trị giá 21.000.000 đồng của anh Vũ Duy T nói đi về quê ăn giỗ, sau đó mang đi cầm cố cho anh Hoàng Ngọc L với giá 16.000.000 đồng rồi bỏ trốn, tài sản đã được thu hồi và trả cho chủ sở hữu. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại điểm tại Điểm b Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng sự tin tưởng của anh T cho bị cáo mượn xe máy để đi về quê ăn giỗ, trên đường đi bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe, bị cáo quay lại cửa hàng cầm đồ lấy 16.000.000 đồng tại D N, phường M, B với mục đích trả nợ và chi tiêu cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho anh L. Bị cáo tự nguyện ra cơ quan công an đầu thú. Vì vậy, không nhất thiết phải giam giữ bị cáo mà cho được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i,s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
[6] Về dân sự: Người bị hại anh Vũ Duy T nhận được xe máy không yêu cầu về phần bồi thường nên tòa không xem xét giải quyết. Anh Hoàng Ngọc L đã nhận đủ tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác nên Toà không xem xét giải quyết.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 175; Điểm i,s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136, Điều 328; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trả tự do ngay cho bị cáo nếu không bị giam giữ về một tội nào khác.
Giao bị cáo về UBND xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời hạn thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Minh Huệ |
Bản án số 265/2024/HS-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 265/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van H - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
