Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND Q. HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 265/2023/HS-ST

Ngày: 05/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Phương Liên

Ông Trần Ngọc Thịnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Lương Đình Quý.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 01 xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 236/2023/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Tùng N - Giới tính: Nam - Sinh năm: 1996

Tên gọi khác : Không

Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện tại: Không xác định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ học vấn: 0/12

Quốc tịch: Việt NamDân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Họ tên cha: Hồ Văn H (Đã chết)

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng V (Đã chết)

Tiền án, tiền sự: 02 tiền án.

  • - Ngày 30/3/2018, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2017 (AS: 60/2018/HSST). Ra trại ngày 23/9/2018. Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Hồ Tùng N đã nộp án phí HSST – Án tích chưa xóa.
  • - Ngày 24/3/2021, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Phạm tội ngày 02/8/2020). (AS: 45/2021/HSST, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm). Ra trại ngày 24/4/2022. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hồ Tùng N chưa nộp án phí HSST – An tích chưa xóa.

Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Bắt người phạm tội quả tang ngày 02/7/2023.

Tạm giữ : 03/7/2023 - Tạm giam : 05/7/2023.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an T2.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T (SN : 1992, HKTT: 108 H, P, H, Hà Nội).

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/7/2023, tổ công tác Công an phường C làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện Hồ Tùng N đang đứng đỗ xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29C2 – 008.30 trước số A phố C, phường C, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, N tự nguyện giao nộp 01 túi ni lông màu trắng, kích thước 2,5x2 cm chứa tinh thể màu trắng từ bên trong chiếc khẩu trang Ngọc đang đeo và khai nhận là ma túy “đá” mang đi bán cho khách. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa N về trụ sở Công an phường C giải quyết.

Thu giữ của Hồ Tùng N: 01 chiếc điện thoại Iphone màu bạc (đã qua sử dụng) kèm sim số 01964057997; 01 xe máy Honda Wave màu trắng, số khung: RLHJA3924NY475490, số máy: JA39E2914305, BKS: 29C2 – 008.30 (BL 27).

Tiến hành kiểm tra điện thoại di động điện thoại Iphone màu bạc thu giữ của Hồ Tùng N phát hiện tin nhắn có nội dung trao đổi mua bán ma túy với người dùng số thuê bao 0936086182 (BL 34 – 35).

Cơ quan điều tra không tiến hành khám xét khẩn cấp do Hồ Tùng N không có nơi cư trú cố định.

Tại Bản kết luận giám định số 4571/KL-HTHS ngày 10/7/2023 của Phòng K - C kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,381 gam”. (BL 21).

Tại cơ quan điều tra, Hồ Tùng N khai: Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 02/7/2023, N nhận được điện thoại từ số thuê bao 0936086182 của T1 (bạn xã hội không rõ lai lịch cụ thể) gọi đến số thuê bao 0964057997 của N nhờ mua hộ 1.000.000 đồng tiền ma túy “đá”. N đồng ý và hẹn giao ma túy tại số A C, phường C, quận H, Hà Nội. Sau đó, N điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29C2 – 008.30 đến khu vực vườn hoa P, phường C, quận H, Hà Nội gặp 01 người đàn ông không quen biết mua 300.000 đồng ma túy “đá”. Mua được ma túy, N cất giấu vào bên trong khẩu trang N đang đeo và dự định bán lại cho T1 với giá 400.000 đồng (gồm 300.000 đồng tiền ma túy, 100.000 tiền công) và nói với T1 do không đủ tiền để mua 1.000.000 đồng ma túy nên chỉ mua 300.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, N đi đến số A C để giao ma túy cho T1 thì bị tổ công tác Công an phường C kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. Nếu bán thành công ma túy cho T1 thì N được hưởng lợi 100.000 đồng. (BL 63 – 74).

Về đối tượng nam giới hỏi mua ma túy tên “T1” sử dụng số thuê bao 0936086182, N khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ điện tín xác định chủ đăng ký thuê bao là Phạm Thị Ánh N1 (Sinh năm: 2003; Trú tại: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa). Tại Cơ quan điều tra, chị N1 khai không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên. Chị N1 không quen biết ai tên Hồ Tùng N. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về đối tượng nam giới bán ma túy, N khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại, việc mua bán ma túy là trực tiếp nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.

Về số thuê bao 0964057997 do Hồ Tùng N sử dụng, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ điện tín xác định chủ đăng ký thuê bao là Cao Nguyễn Quốc V1 (Sinh năm: 1979; Trú tại: Số F ngõ F T, phường T, quận B, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh V1 khai không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên, không quen biết ai tên là Hồ Tùng N. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29C2 – 008.30 thu giữ của Hồ Tùng N, chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị T (Sinh năm: 1992; HKTT: 108 H, phường P, quận H, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, chị T khai N mượn xe của chị T để sử dụng việc cá nhân. Chị T không biết N sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 29/9/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho chị T. Sau khi nhận lại tài sản chị T không có yêu cầu, đề nghị gì khác. (BL 84–90).

Tại cáo trạng số 229/CT-VKS ngày 05/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Hồ Tùng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận chỉ mua ma túy về để sử dụng chứ không phải để bán. Bị cáo có bị một số người mặc quần áo thường dân đánh khi bị bắt quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, Điều 38 Bộ luật hình sự kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Về hành vi: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo chỉ thừa nhận việc mua ma túy nhưng là mua về để sử dụng chứ không phải để bán.

    HĐXX thấy rằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo đã điểm chỉ xác nhận hành vi phạm tội, có sự chứng kiến của người chứng kiến. Điện thoại thu giữ của bị cáo có thể hiện nội dung tin nhắn liên quan đến giao dịch mua bán ma túy; có thể hiện các cuộc gọi đến, gọi đi từ thuê bao của bị cáo với thuê bao của đối tượng hỏi mua ma túy. Tài liệu rút list điện thoại của bị cáo thể hiện bị cáo và đối tượng hỏi mua ma túy tên T1 có liên lạc với nhau trong khoảng thời gian phù hợp với thời gian T1 nhắn tin cho bị cáo hỏi mua ma túy. Mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận bị cáo chỉ điểm chỉ vào các biên bản làm việc tại cơ quan điều tra sau khi đã được đọc nội dung. Mà các biên bản làm việc tại cơ quan điều tra bị cáo đều thành khẩn, khai nhận hành vi phạm tội của mình và có người chứng kiến. Như vậy, ở những lời khai ban đầu tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

    Mặc dù tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhưng căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản lấy lời khai trong cả quá trình điều tra, lời khai người làm chứng, kết luận giám định, list điện thoại của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy có đủ căn cứ kết luận khoảng 16 giờ 25 phút ngày 02/7/2023, tại trước cửa số A C, phường C, quận H, TP Hà Nội, bị cáo có hành vi cất giấu 0,381 gam ma túy loại Methaphetamin nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

    Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

    Đối với việc bị cáo khai bị thường dân đánh khi bị bắt, HĐXX thấy rằng : tại phiên tòa, bị cáo khai bị đánh nhưng không nhớ là ai đánh, cũng không có giám định thương tích. Vì vậy không đủ căn cứ xác định bị cáo bị Điều tra viên hay cán bộ điều tra giải quyết vụ án đánh. Bị cáo cũng không có khiếu nại gì nên HĐXX không xem xét.

    Nhân thân của bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm.

  3. Tình tiết giảm nhẹ: Không
  4. Tình tiết tăng nặng: Không.
  5. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội và đường lối xử lý nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này nhưng vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Bởi vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  6. Về tang vật:
    • + Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • + 01 điện thoại di động Iphone màu bạc đã qua sử dụng của bị cáo sử dụng để liên lạc trong việc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung công, 01 sim đã cũ kèm điện thoại không còn giá trị sử dụng cho tịch thu tiêu hủy.
  7. Các vấn đề khác:
    • - Về xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát: 29C2 – 008.30 được Cơ quan CSĐT – C1 tiến hành trả lại cho chị Nguyễn Thị T. Chị T không có ý kiến gì khác nên HĐXX không xem xét.
    • - Về đối tượng bán ma túy cho Hồ Tùng N, N khai không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.
  8. Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  9. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân bị cáo, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt, về hình phạt bổ sung và về các vấn đề khác là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
  10. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
  11. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hồ Tùng N 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt người phạm tội quả tang 02/7/2023.

  2. Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • + Tịch thu tiêu hủy 0,381 gam ma túy loại Methaphetamin (PC trích mẫu 0,039 gam, còn lại 0,342 gam).
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.
    • + Tịch thu 01 điện thoại di động Iphone màu bạc đã cũ, đã qua sử dụng, mặt sau máy xước bẩn sung công quỹ nhà nước,

    (Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm và được mô tả theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 09/10/2023).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

  4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKS nhân dân quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 265/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 265/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger