|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 265/2023/HSST
Ngày: 02-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Lan
Ông Đoàn Hồng Hải.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 240/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng Q; sinh năm 1997 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy L và bà Nguyễn Thị X; tiền án: bản án số 20/2017/HSST ngày 15-02-2017 của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05-12-2017), bản án số 66/2019/ HS-ST ngày 22-10-2019 của Tòa án nhân dân huyện Y tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 31-03-2021), bản án số 58/2021/HS-ST ngày 25-10-2021 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Hà Nam xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-02-2023); tiền sự: không; nhân thân: ngày 26-7-2021, Công an thị trấn M1 huyện M tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm giữ ngày 13-8-2023, chuyển tạm giam ngày 21-8-2023; có mặt.
Người làm chứng: Ông Trần Tuấn A và ông Hoàng Mai L (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13-8-2023, tổ công tác Công an phường V thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 58 đường L phường L thành phố N phát hiện Nguyễn Hồng Q đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, Q thả từ tay trái xuống đất 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Q khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hồng Q.
Bản Kết luận giám định số 1264/KT- KTHS ngày 18-8-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Heroine (Heroin); khối lượng mẫu: 0,327 (không phảy ba trăm hai mươi bảy) gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng Q khai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13-8-2023, Q thuê xe ôm (không biết lai lịch, địa chỉ) từ nhà đến ngõ An Phong thành phố N. Q bảo người xe ôm dừng xe đứng đợi, rồi đi bộ vào trong 1 ngõ nhỏ (không nhớ số ngõ) gặp một người phụ nữ (không biết lai lịch, địa chỉ) mua 1 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Q cầm gói Heroine trên tay trái rồi ra chỗ người xe ôm đứng đợi chở về. Khi đi đến ngã tư đường 21 giao nhau với đường Lương Xá phường Lộc Hòa thành phố N, Q xuống xe trả tiền xe ôm rồi đi bộ vào đường Lương Xá để tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 260/CT-VKSTPNĐ ngày 09-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Hồng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hồng Q khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hồng Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Hồng Q, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 1264/KL-KTHS ngày 18-8-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13-8-2023, tại khu vực trước cửa số nhà 58 đường L phường L thành phố N, Nguyễn Hồng Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,327 gam Heroine mục đích đê sử dụng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý, bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại quy định điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị xử phạt hành chính (đã được xóa tiền sự). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và người xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1264/KL-KTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hồng Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13-8-2023.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |
Bản án số 265/2023/HSST ngày 02/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 265/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Quân - TTMT
