|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 265/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thắng, bà Lương Thị Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 217/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982;
- Địa chỉ: Số C phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương;
- CCCD số: [...], cấp ngày 28/6/2021.
- Người được anh T ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- - Bị đơn: Chị Quách Thị H, sinh năm 1987;
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số C phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú hiện nay: Cộng hòa Liên bang Đ.
- CCCD số: [...]; cấp ngày 13/8/2021.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản ghi lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày: Anh và chị Quách Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 17/7/2009. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do điều kiện kinh tế khó khăn, vợ chồng làm ăn thua lỗ, cách cư xử trong gia đình khiến anh chị chịu nhiều áp lực. Đầu năm 2022 chị H đi lao động tại H, thời gian đầu vợ chồng vẫn liên lạc hỏi thăm, chia sẻ cuộc sống với nhau. Cuối năm 2022 chị H chuyển sang làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đ, từ khi sang Đức chị H ít liên lạc, không quan tâm đến gia đình, không gửi tiền về để lo cho con cái. Anh nhiều lần yêu cầu chị H về nước để giải quyết chuyện tình cảm gia đình nhưng chị H không về. Vợ chồng sống xa cách mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ được, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Quách Thị H.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Nguyễn Quang A, sinh ngày 26/4/2010 và Nguyễn Quốc A1, sinh ngày 08/05/2015, hiện các con đang ở với anh, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên anh ủy quyền cho anh Nguyễn Văn N thay anh giao, nhận các văn bản, tài liệu tại Tòa án, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Người được anh T ủy quyền giao, nhận văn bản anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh nhất trí nhận ủy quyền của anh T, sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, anh đã thông báo cho anh T biết. Anh T1 vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Người làm chứng chị Quách Thị T2 trình bày: Chị là em gái chị Quách Thị H. Chị H hiện đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đ. Chị H vẫn thường xuyên liên lạc điện thoại về cho chị, tuy nhiên địa chỉ cụ thể như thế nào chị không nắm được. Anh T1 có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn, chị nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị H biết. Chị H có quan điểm xác định vợ chồng sống ly thân từ khi chị đi nước ngoài năm 2022 cho đến nay, vợ chồng ít liên lạc và không quan tâm đến nhau. Do sống xa cách nên vợ chồng không có tiếng nói chung, khi xảy ra mâu thuẫn anh chị không tìm được biện pháp để hàn gắn tình cảm. Nay anh T1 có đơn xin ly hôn, gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện. Chị H cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị nhất trí ly hôn. Chị H xác định vợ chồng có 02 con chung như anh T1 trình bày là đúng. Hiện chị đang lao động ở nước ngoài nên không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, các con đang ở với anh T1 ổn định, chị đề nghị giao cả hai con chung cho anh T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chị và anh T1 tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tài sản chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết và chị đề nghị được giải quyết vắng mặt.
Theo xác minh tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh: Chị Quách Thị H đã xuất cảnh ngày 27/3/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho anh Nguyễn Thanh T ly hôn chị Quách Thị H; về con chung: giao 2 con chung Nguyễn Quang A, Nguyễn Quốc A1, sinh ngày cho anh Nguyễn Thanh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T1 phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định:
- Về tố tụng: Bị đơn chị Quách Thị H có nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại số C phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, hiện chị đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đ. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn chị Quách Thị H đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh T và chị Quách Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 17/7/2009 là hôn nhân hợp pháp. Anh T1 trình bày quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không phù hợp về tính cách, cách cư xử trong gia đình, bên cạnh đó điều kiện kinh tế khó khăn, vợ chồng làm ăn thua lỗ khiến anh chị chịu nhiều áp lực. Năm 2022 chị H đi lao động tại H vợ chồng có liên lạc với nhau nhưng sau đó chị H chuyển sang lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ, từ đó anh chị không liên lạc và không quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022. Đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị H. Chị H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc. Chị Quách Thị T2 là em gái chị H trình bày về mâu thuẫn của chị H, anh T1 phù hợp với lời khai của anh T1. Do đó đủ cơ sở xác định quá trình anh T1, chị H chung sống đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc với nhau nữa. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T1, chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T1, xử cho anh T1 được ly hôn chị H.
- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Thanh T và chị Quách Thị H có 02 con chung là Nguyễn Quang A, sinh ngày 26/4/2010 và Nguyễn Quốc A1, sinh ngày 08/05/2015. Anh T1 đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi và tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị Quách Thị T2 là em gái chị H trình bày, chị H nhất trí quan điểm của anh T1 về việc nuôi con chung. Xét thấy các con đang ở cùng anh T1 ổn định, anh T1 đảm bảo được các điều kiện để nuôi con. Chị H đang lao động ở nước ngoài nên không có điều kiện trực tiếp chăm sóc con chung. Như vậy để đảm bảo sự ổn định và phát triển thuận lợi của các con, HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh T1 giao con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T1 không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Thanh T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh T, xử cho anh Nguyễn Thanh T ly hôn chị Quách Thị H.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Quang A, sinh ngày 26/4/2010 và Nguyễn Quốc A1, sinh ngày 08/05/2015 cho anh Nguyễn Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chị Quách Thị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do anh T không yêu cầu và được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
- Về án phí: Anh Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai ký hiệu BLTU/24 số 0001807 ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, anh T đã thực hiện xong nghĩa vụ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đoàn Thị Thu Thúy |
Bản án số 265/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 265/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên Thanh T - Quách Thị H
