|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 265/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-04-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đoàn Văn Rỹ
2/ Bà Thái Thục Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 09/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 709/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Đường Đ, Phường S, thành phố T, tỉnh G. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Đường D, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2024, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu T và ông Nguyễn Minh H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2022, đăng ký ngày 19/8/2022 tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G.
Sau khi có con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 21/7/2022, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G, hai bên đã ly thân. Đến tháng 1 năm 2023, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nay, bà T nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.
Về con chung: Bà Phạm Thị Thu T xác định giữa bà và ông Nguyễn Minh H có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 21/7/2022, đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G. Từ khi ly thân cho đến nay, trẻ Nguyễn Thiên K sống với mẹ và được chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến ngày hôm nay. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Thu T xác định giữa bà và ông Nguyễn Minh H không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, ngày 17/3/2025, bà T có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay bà T lại có mặt để tham gia phiên tòa.
* Bị đơn ông Nguyễn Minh H có Đơn đề nghị vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử ngày 11/11/2024, được Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T chứng thực số 1794, quyển số 11-SCT/CK, ĐC ngày 11/11/2024. Văn bản này, ông H trình bày:
Ông H nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 709/TB-TA ngày 21/10/2024 của Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc giải quyết ly hôn với bà Phạm Thị Thu T.
Ông H xác nhận có đăng ký kết hôn với bà T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2022, đăng ký ngày 19/8/2022 tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G; có con chung theo Giấy khai sinh tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 21/7/2022, đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G; Tài sản chung và nợ chung không có.
Nay bà T muốn ly hôn thì ông H đồng ý ly hôn; con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 21/7/2022 giao cho bà T nuôi dưỡng, không đòi hỏi tiền trợ cấp bên chồng.
Về án phí ly hôn bà T chịu.
Tại phiên tòa, do ông Nguyễn Minh H vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa công bố tài liệu chứng cứ, lời khai của các đương sự trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự;
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Thu T, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 186 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 51của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp về ly hôn và nuôi con.
Do ông Nguyễn Minh H là bị đơn và có nơi cư trú tại Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Ngày 17/3/2024, nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T có đơn đề nghị vắng mặt khi xét xử nhưng tại phiên tòa nguyên đơn có mặt để tham gia phiên tòa; ngày 11/11/2024, bị đơn ông Nguyễn Minh H có đơn đề nghị vắng mặt khi xét xử. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về hôn nhân:
Bà Phạm Thị Thu T và ông Nguyễn Minh H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2022, đăng ký ngày 19/8/2022 tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G.
Căn cứ quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, hai bên phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân nhiều năm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà T yêu cầu được ly hôn với ông H và ông H đồng ý.
Căn cứ các Điều 19, 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, yêu cầu của bà Thủy được ly hôn với ông H là có cơ sở để chấp nhận.
[3.2] Về nuôi con chung:
Bà Phạm Thị Thu T và ông Nguyễn Minh H xác định vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 21/7/2022 (đăng ký tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G). Từ khi ly thân, trẻ K sống chung với bà T cho đến nay. Ông H cũng đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và bà T không yêu cầu ông Hải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với lời khai của các bên.
Để bảo đảm quyền lợi về trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Việc giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên yêu cầu của bà T được nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng là có cơ sỏ để chấp nhận.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Bà T và ông H xác định vợ, chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết; Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ để chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do đây là vụ án hôn nhân và gia đình, nguyên đơn yêu cầu giải quyết về ly hôn, quyền nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T.
- - Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu T ly hôn ông Nguyễn Minh H (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2022, đăng ký ngày 19/8/2022 tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G).
- - Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 21/7/2022 (theo Giấy khai sinh số 163/2022, đăng ký ngày 23/8/2022 tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T, tỉnh G) cho bà Phạm Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng. Không yêu cầu ông Nguyễn Minh H cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Phạm Thị Thu T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0030442 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo:
- - Bà Phạm Thị Thu T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Ông Nguyễn Minh H được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nơi nhận:
|
(Đã ký) Bùi Thành Trung |
Bản án số 265/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 265/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với ông Nguyễn Minh. Tòa án nhân dân Quận 8 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu T.
