|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 265/2024/HSST Ngày: 10-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2024/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024 ngày 20/5/2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Trọng N; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/4/1995; Tại: Tây Ninh; Nơi thường trú: Số B, đường số A, khu phố H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số I, đường số C, khu phố H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cha: Đỗ Thanh T (chết); Mẹ: Nguyễn Thị Nhật T1; Sinh năm: 1977; Vợ: Huỳnh Thị Bích N1; Sinh năm: 1993; Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2000; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 16/7/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Văn T2; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998 Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số F, đường D, Khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Trần Văn T3; Sinh năm: 1975; Mẹ: Nguyễn Thị Thanh S; Sinh năm: 1979; Vợ, con: chưa có; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 21/9/2016, Công an Q bắt về hành vi Cướp tài sản, Toà án nhân dân Quận 9 xử phạt 07 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 21/10/2021; Bị tạm giam từ ngày 16/7/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đặng Bùi Thị Thu H, sinh ngày 26/02/2009 (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp: Ông Đặng Trí D, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 đường H, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Trọng N, Trần Văn T2 và Đặng Bùi Thị Thu H (sinh ngày 26/02/2009) có quan hệ bạn bè với nhau, trong đó N và T2 đã sử dụng ma tuý chung với nhau. Ngày 10/7/2023, N biết H bỏ nhà đi nên N thuê phòng số 13, khách sạn Q1, địa chỉ số H, đường T, phường P để ở, đến ngày 13/7/2023, N rủ T2 đến ở cùng. Để có tiền tiêu xài và trả tiền khách sạn, N rủ T2 và H cùng bán ma tuý thì T4 và H đồng ý.
Khoảng 02 giờ ngày 15/7/2023, N liên lạc với một người tên V (chưa rõ lai lịch) đặt mua 01 hộp 5 ma tuý đá với giá 2.000.000 đồng và hẹn đến giao lộ giữa đường số A và đường V, phường B để giao ma tuý, N điều khiển xe mô tô hiệu Luvias biển số 59X2-962.51 đi lấy ma tuý, sau khi về đến phòng, N lấy 1 ít ma tuý bỏ vào nỏ thuỷ tinh sử dụng, số ma tuý còn lại N cất dấu vào ngăn kéo tủ của phòng 13, khách sạn Q1.
Sáng ngày 15/7/2023, N về nhà có công việc nên nói với T2 và H biết vị trí cất ma tuý và dặn nếu có ai mua ma tuý thì lấy bán, T2 và H mở tủ để kiểm tra thì thấy nỏ thuỷ tinh còn 1 ít ma tuý còn sót lại nên châm lửa hút.
Khoảng 17 giờ ngày 15/7/2023, có một người phụ nữ tên V1 và một nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) đến phòng 13 khách sạn Q1 hỏi gặp N để mua ma tuý, T2 gọi điện cho N thì N đồng ý bán cho V1 nên T2 và H lấy 01 gói ma tuý bán cho V1 với giá 2.200.000 đồng, V1 trả 1.000.000 đồng tiền mặt, còn 1.200.000 đồng V1 chuyển khoản vào tài khoản ví Momo của T2.
Khoảng 19 giờ ngày 15/7/2023, Tổ tuần tra 363 của Công an Thành phố H tuần tra đến khu vực ngã tư B, phát hiện N điều khiển xe mô tô hiệu Luvias biển số 59X2-962.51 không đội nón bảo hiểm nên dừng xe để kiểm tra, qua kiểm tra N khai nhận có sử dụng ma tuý và đang cất dấu ma tuý tại phòng 13, khách sạn Q1 để bán cho người nghiện kiếm lời nên Tổ công tác 363 đưa N đến khách sạn Q1 để kiểm tra, khi Tổ công tác tới thì N lấy bịch nylon có chứa ma tuý bỏ vào thùng rác, còn 01 cân điện tử bỏ vào bồn cầu nhà vệ sinh để che dấu. Tổ công tác 363 tiến hành bàn giao đối tượng và vật chứng cho Công an phường T, thành phố T, lập hồ sơ xỷ lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra N, T2, H khai nhận hành vi như trên. Ngoài ra N cho biết đã mua ma túy của V (chưa rõ lai lịch) nhiều lần để về phân nhỏ bán lại kiếm lời, phòng số 13 khách sạn Q1 do N thuê và trả tiền, T2 và H phụ bán ma túy cho N nhưng không được N trả tiền công mà đã trừ vào chi phí ăn uống và chỗ ở.
Kết luận giám định số 7790/KL-KTHS ngày 24/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1427 gam, khối lượng còn lại sau giám định là 0,0679 gam.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, thu giữ của T2; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S thu giữ của N; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Luvias biển số 59X2-962.51, kết quả xác minh do N đứng tên chủ sở hữu; 01 gói ny lon có chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0679 gam; 01 cân điện tử.
Cáo trạng số 179/CT-VKSTPTĐ ngày 02/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đỗ Trọng N và Trần Văn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đỗ Trọng Nhân T5 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn T2 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Về vật chứng vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Trọng N, Trần Văn T2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Đỗ Trọng N, Trần Văn T2 và Đặng Bùi Thị Thu H thuê phòng số 13 khách sạn Q1; địa chỉ số H, đường T, khu phố B, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để ở và bán ma túy lấy tiền tiêu xài. Ngày 15/7/2023 N liên lạc với một người tên V (chưa rõ lai lịch) đặt mua 01 gói ma túy đá với giá 2.000.000 đồng và mang về khách sạn giấu trong học tủ để sử dụng chung và bán lại kiếm lời. Theo Kết luận giám định số 7790/KL-KTHS ngày 24/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận là ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1427g. Hành vi của Đỗ Trọng N và Trần Văn T2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Đỗ Trọng N và Trần Văn T2 về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đối với Đặng Bùi Thị Thu H, sinh ngày 26/02/2009, khi thực hiện hành vi phạm tội H mới 14 tuổi 5 tháng 09 ngày, tội phạm mà H thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Căn cứ vào Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì H không phải chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không truy trách nhiệm hình đối với H là có căn cứ.
[4] Đối với đối tượng tên V (chưa rõ lai lịch) bán ma tuý cho N, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[5] Xét đây là vụ án có tính đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, bị cáo N giữ vai trò là người xúi giục T2 và H đi bán ma túy, bị cáo T2 và H giữ vai trò là ngưới giúp sức.
[6] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Đỗ Trọng N và Trần Văn T2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Bị cáo Trần Văn T2 có một tiền án về tội “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đỗ Trọng N có hành vi xúi giục Đặng Bùi Thị Thu H thực hiện hành vi phạm tội, khi H chưa đủ 18 tuổi, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[7] Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, thu giữ của T2; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S thu giữ của N; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Luvias biển số 59X2-962.51, kết quả xác minh do N đứng tên chủ sở hữu. Xét đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 gói ny lon có chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0679 gam; 01 cân điện tử là tang vật trong vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng N và Trần Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng N 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2023.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2023.
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Luvias biển số 59X2-962.51.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ny lon có chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0679 gam; 01 cân điện tử.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/242C ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
5. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đỗ Trọng N và Trần Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 265/2024/HSST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 265/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đỗ Trọng N và Trần Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy
