|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:265/2024/HS-ST Ngày: 10/6/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.
Thẩm phán: Ông Trương Công Huấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Xuân Lang.
- Bà Đặng Thị Huệ Tú.
- Bà Lê Thanh Xuân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Huy Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 296/2024/HSST ngày 16/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2753/2024/QĐXXST-HS ngày 22/5/2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Thị H, tên gọi khác: không, sinh năm: 1995 tại tỉnh P; nơi thường trú: Thôn Phước L, xã Xuân Q, huyện Đ, tỉnh Y; chỗ ở: Phòng 501, nhà 40, đường 19, phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H1 và bà Võ Thị L (đã chết); Anh, chị, em có 01 người; có cha là Lương Văn H (đã ly hôn), có 02 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt, tạm giam ngày 03/8/2023. (có mặt tại phiên toà)
Người bào chữa: Luật sư Trần Ngọc Hoà, Công ty Luật TNHH Hoà Trần, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Thị H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 31/7/2023, tổ tuần tra Công an Phường H Quận A tuần tra đến trước Chung cư T số 3 Cao L, Phường H Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện tài xề công nghệ Grab shipper Nguyễn Hữu L đang điều khiển xe máy biển số 59D1-808.xx có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện thu giữ trong thùng hàng trên xe của L có 01 hộp giấy màu xanh, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4002g loại Ketamine và 04 viên nén màu vàng kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6560g loại MDMA, Ketamine, Heroin. L khai gói hàng này L vừa nhận từ một người phụ nữ (không rõ lai lịch) tại số 40 đường số 19, Phường S, quận G để giao cho khách theo đơn giao hàng trên ứng dụng Gr. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc và phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận A tiến hành truy xét người phụ nữ đã đặt giao gói hàng trên.
Qua điều tra truy xét, Công an xác định: Huỳnh Thị H là người đã đặt ứng dụng Gr giao hàng cho tài xế Nguyễn Hữu L để L đem đến Chung cư T số 39 Cao L, Phường H, Quận A cho 01 người thanh niên tên B (không rõ lai lịch).
Vào lúc 03 giờ 00 phút ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Thị H tại Phòng số 501 Nhà số 40 đường số 19, Phường A, quận G. Kết quả phát hiện thu giữ gồm:
Trong tủ gỗ màu xanh có 01 hộp giấy hiệu T – Doraemon bên trong chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 60,4948g loại Methamphetamine).
Trên bàn gỗ phòng khách có 01 hộp giấy màu đen hiệu Lighter, bên trong có 09 gói nylon màu trắng chứa tinh thể không màu kết quả giám định là ma túy, có khối lượng 6,1204g loại Methamphetamine; 06 gói nylon màu trắng hồng chứa tinh thể không màu kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8643g loại Methamphetamine.
Trong ngăn tủ nhựa ở phòng khách có 01 bóp gia màu hồng, bên trong có 05 gói nylon có khối lượng 4,6653 gam loại Methamphetamine.
Dưới nền nhà trong góc trái phòng khách có 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng, kết quả giám định là ma túy có khối lượng 15,9366g loại MDMA. 01 hộp giấy màu vàng xanh, bên trong có: 01 cân tiểu ly, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,2826g loại Ketamine, 01 gói nylon chứa 08 viên nén màu vàng kết quả giám định là ma túy có khối lượng 3,9039g loại MDMA, 01 gói nylon chứa 07 viên nén hình chữ nhật màu xanh kết quả giám định là ma túy có khối lượng 2,937g loại Ketamine, 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu xanh kết quả giám định là ma túy có khối lượng 1,3521g loại Ketamine, 02 gói nylon chứa tinh thể không màu kết quả giám định là ma túy có khối lượng 3,9559g loại Ketamine, 01 gói nylon chứa 05 viên nén màu vàng kết quả giám định là ma túy có khối lượng 2,0563 gam loại MDMA; 01 gói nylon chứa mảnh vụn viên nén màu xanh kết quả giám định là ma túy có khối lượng 0,2161gam Ketamine, Heroine; 01 gói nylon chứa 01 viên nén và 01 mảnh vụn viên nén màu vàng có khối lượng 0,6026 gam MDMA.
Ngoài ra, Công an Quận A còn thu giữ của H 03 (ba) điện thoại di động. Sau đó, Công an Quận A lập biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hồng.
Tất cả ma túy thu giữ đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 8450/KL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL: 51).
Quá trình điều tra, hồ sơ thể hiện: Huỳnh Thị H khai là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và hút ma túy, H đã đặt mua ma túy của Tâm E (không rõ lai lịch) nhiều lần cụ thể vào giữa tháng 7/2023 H điện thoại cho Tâm E không nhớ số điện thoại do H đã xóa số liên lạc. H đã mua ma túy của Tâm E tổng cộng 17.000.000 đồng ma túy đá gồm nhiều loại ma túy như Ketamine, thuốc lắc trong gói ma túy còn có 01 cân tiểu ly đùng để phân chia ma túy. Khi mua được ma túy H đem về phòng trọ kiểm tra và cất giấu để khi có người hỏi mua thì H sẽ bán và H đã bán được cho một người tên Mỹ D (không rõ lai lịch) 05 gam Ketamine và 02 viên thuốc lắc với giá 3.000.000 đồng, và bán cho một người thanh niên tên B (không rõ lai lịch) liên hệ với H mua 05 gam ketamine, 04 viên ma túy đá B yêu cầu H giao ma túy đến tòa nhà A2 chung cư T khi nào nhận được ma túy B sẽ chuyển tiền cho H, sau đó H dùng cân phân ma túy ra bỏ vào hộp giấy màu xanh dán băng keo kín phía ngoài rồi đặt Grab giao đến chung cư T giao cho B. Nguyễn Hữu L tài xế Gr khi nhận đơn hàng không mở ra kiểm tra mà bỏ vào thùng hàng trên xe đem đi giao theo đơn đặt hàng, phí giao hàng 109.000 đồng do người nhận hàng sẽ thanh toán cho L. khi L đang trên đường điều khiển xe đi giao hàng thì bị Công an Quận A phát hiện bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- - 06 gói niêm phong ghi số 8450/23 (gói 1,2,3,4,5,6) bên ngoài có chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, Điều tra viên Lê Quang H (Công an quận F) bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 điện thoại hiệu Oppo đây là điện thoại của Huỳnh Thị H sử dụng để liên lạc với gia định và trao đổi mua ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 237/CT-VKS-P1 ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Thị H thừa nhận hành vi phạm tội tương tự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, không oan sai.
Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Huỳnh Thị H 20 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Luật sư Trần Ngọc H bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị H trình bày: Bị cáo phạm tội lần đầu; chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn; hiện tại bị cáo đã ly hôn cHphải nuôi 2 con nhỏ; bị cáo phạm tội do bị rủ rê lôi kéo trong lúc khó khăn về kinh tế. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức án dưới mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên đề nghị miễn hoặc giảm tiền phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối đáp lại quan điểm bào chữa của các Luật sư bào chữa cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo H đã mua bán ma túy đến lần thứ hai mới bị phát hiện nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt xuống dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội đã nêu ra tại phiên tòa.
Bị cáo Huỳnh Thị H thống nhất với lời bào chữa của luật sư, không tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử khoan H giảm nhẹ hình phạt.
Các bên còn tranh luận đối đáp bổ sung thêm nhưng cuối cùng vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Huỳnh Thị H trình bày rất ăn năn hối hận về việc làm của mình, xin Hội đồng xét xử khoan Hgiảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội, làm lại cuộc đời và làm việc nuôi con nhỏ, cha già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị H không có ý kiến về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay: bị cáo Huỳnh Thị H đã khai nhận toàn bộ những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: bản tự khai, bản tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; lời khai của người làm chứng; biên bản nhận dạng; bản kết luận giám định ... nên đã có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 31/7/2023, Huỳnh Thị H bị phát hiện có hành vi bán ma túy cho đối tượng tên B (không rõ lai lịch) qua ứng dụng giao hàng Gr, thu giữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4002g loại Ketamine và 04 viên nén màu vàng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6560g loại MDMA, Ketamine, Heroin.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Thị H tại Phòng số 501 Nhà số 40 đường số 19, Phường A, quận G thu giữ ma túy các loại. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị H là 73,1448 gam loại Methamphetamine, 22,4994 gam loại MDMA, 14,9282 gam Ketamine, 0,2161 gam loại Ketamine, Heroine và 1,6560 gam MDMA, Heroine, Ketamine. Theo Kết luận giám định số 8450/KL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh
Với hành vi như trên, xét đã có đủ cơ sở để tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” Tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Thị H là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế-xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật đê răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như vị đại diện Viện kiểm sát và các luật sư bào chữa cho bị cáo đã đề cập như: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Mặc dù có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cũng như đánh giá vai trò, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo như đã viện dẫn ở trên. Nhưng xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, căn cứ vào khối lượng ma túy ở thể rắn bị cáo đã mua bán trái phép là rất lớn, qua đó thể hiện bị cáo là người bất chấp, coi thường pháp luật. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Xét hoàn cảnh, điều kiện kinh tế của bị cáo có khó khăn, phải nuôi 2 con nhỏ nên miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Lập luận trên đây là căn cứ để không chấp nhận quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo và ý kiến của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt dưới mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nêu ra tại phiên tòa.
Đối với đối tượng tên Tâm E là người bán ma túy cho H và đối tượng Mỹ D người mua ma túy, do H khai không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở xác minh xử lý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Hữu Lộc chạy xe công nghệ Gr, L không biết và không tham gia vào việc mua bán ma túy của H, kết quả test nhanh L âm tính với ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận A đã giải tỏa cho L về.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và các vật dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với các điện thoại di động, cân tiểu ly thu giữ của bị cáo. Bị cáo đã dùng điện thoại di động làm phương tiện liên lạc vận chuyển ma túy, dùng cân tiểu ly để phân chia ma tuý, đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Huỳnh Thị H 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 06 (sáu) gói niêm phong ghi số 8450/23 gói 1,2,3,4,5,6 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phạm Huỳnh Minh T và Điều tra viên Lê Quang H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) cân tiểu ly; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Seri:JV06072G6R, mang sim số 0366395256 (...2711, không kiểm tra đời máy, imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại đi động hiệu Oppo, imei 1: 869563044365515, imei 2: 869563044365507 mang sim số 0909718103, 0329244044 (thực nhận 01 điện thoại Oppo màu xanh, bể lưng, không kiểm tra đời máy, imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01(một) điện thoại đi động hiệu Nokia màu trắng hồng, mang sim số 0867350803 (...8061, không kiểm tra đời máy, imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/259 ngày 08/4/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Huỳnh Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thanh Nguyễn |
Bản án số 265/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 265/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị H Mua bán trái phép chất ma túy
