TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 265/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Bang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng
Bà Trần Thị Ánh Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 250/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hồng S, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1975, tại: tỉnh Nam Định; Số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A, T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê K và bà Lê Thị M (đã chết); có vợ là Trần Thị M1 (đã ly hôn), chưa có con; tiền án: Bản án số 308/2013/HSST ngày 03-9-2013, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Lê Hồng S 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 05-7-2014, ngày 28-6-2019 được đình chỉ thi hành phần án phí); Bản án số 228/2017 ngày 07-7-2017, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Lê Hồng S 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 13-5-2019); Bản án số 180/2021/HSST ngày 20-7-2021, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Lê Hồng S 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 05-2-2024); Tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14-01-2009, Ủy ban nhân dân tỉnh N đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 116; ngày 14-6-2013, Công an phường L, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-8-2024, chuyển tạm giam ngày 21-8-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Ông Phạm Như B và ông Hoàng Mai L (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 11-8-2024, tổ công tác Công an phường V (nay là phường V), thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước nghĩa trang M2, đường D thuộc Khu công nghiệp H, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện bị cáo Lê Hồng S đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong tay phải của bị cáo S 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (bị cáo S khai là H mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Lê Hồng S.
Ngày 12-8-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định trưng cầu giám định số 2221/QĐ-ĐCSMT đối với mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ được của bị cáo Lê Hồng S. Bản kết luận giám định số 1471/KL-KTHS ngày 16-8-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,143 gam.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lê Hồng S khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 11-8-2024, bị cáo S đi bộ từ nhà đến khu vực đường P, phường T, (nay là phường C), thành phố N gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Bị cáo S cầm gói Heroine trên tay phải đi bộ ra khu vực ga N thuê xe ôm của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) chở đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Công an phường V (nay là phường V) phối hợp Công an phường T (nay là phường C), thành phố N xác minh người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Lê Hồng S nhưng không xác định được đối tượng có đặc điểm như bị cáo S khai nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N không có căn cứ xử lý.
Bản cáo trạng số 254/CT-VKSND-TPNĐ ngày 28-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Lê Hồng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hồng S đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Lê Hồng S tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Hồng S từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Lê Hồng S.
- Buộc bị cáo Lê Hồng S nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Hồng S nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hồng S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Hồng S trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11-8-2024; Biên bản làm việc thu dữ liệu bản ảnh vật chứng bắt quả tang ngày 11-8-2024; Kết luận giám định số 1471/KL-KTHS ngày 16-8-2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 20 giờ ngày 11-8-2024, tại khu vực trước nghĩa trang M2, đường D thuộc Khu công nghiệp H, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Lê Hồng S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,143 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Lê Hồng S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,143 gam loại Heroin. Vì vậy bị cáo Lê Hồng S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã có 03 lần bị kết án nhưng chưa được xoá án tích, đã bị xác định là tái phạm nhưng lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Vì vậy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Lê Hồng S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lê Hồng S không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hồng S là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có 03 (ba) tiền án chưa được xoá án tích nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo thực hiện, mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Lê Hồng S không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Hồng S là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Lê Hồng S, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[8] Về án phí:
Bị cáo Lê Hồng S bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Hồng S 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12-8-2024.
2. Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ trong phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 1471/KL-LTHS còn nguyên vẹn niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh N.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-11-2024)
3. Án phí:
- - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Lê Hồng S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Hồng S có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Lê Hồng S có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Bang |
6
Bản án số 265/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 265/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Hồng S 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12-8-2024.
