Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 265/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm.
  • Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 274/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 68/2024/HSST-TB ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Thành Thanh T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2001 tại Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 225/88, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thành T1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 2002 và có 01 con sinh năm 2024;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt truy nã ngày 21/01/2024 và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 06 tháng 02 năm 2021, Lý T2, Trần Quang K, Đỗ Thành Thanh T cùng H (bạn của T, không rõ nhân thân, lai lịch) tụ tập tại bãi đất trống thuộc khu phố B, phường B, thành phố B. Tại đây T2 nhận được điện thoại của một người con gái tên Á (chưa rõ lai lịch) báo bị một nhóm thanh niên hăm dọa đánh tại chân cầu B. Nghe vậy thì T2 kể lại cho T nghe. T rủ K, T2 và H đến chân cầu B để đánh lại nhóm kia giúp Á, tất cả đồng ý.

Khi T2 và các bạn đến chân cầu B thì thấy có hai nhóm con gái gồm nhóm của Á và nhóm của Nguyễn Thị Kim H1 (sinh năm 2000, ngụ tại khu phố B, phường Q, thành phố B) và Nguyễn Thụy Anh T3 (sinh năm 2005, ngụ tại số K, khu phố T, phường B, thành phố B đang đứng nói chuyện. Lúc này T có hỏi Á “đứa nào” thì Á có chỉ tay về phía anh Võ Hoàng M (sinh năm 2001, ngụ tại số K, khu phố D, phường B, thành phố B), Trang Đăng K1 (sinh năm 2001, ngụ tại khu phố C, phường B, thành phố B) và Trần Lưu Trọng T4 (sinh năm 2001, ngụ tại khu phố D, phường B, thành phố B) đang đứng ở bên kia đường và nói “tụi nó đánh em”. Nghe vậy thì T cùng bạn của T lao vào dùng tay và nón bảo hiểm đánh nhau với nhóm của anh M. Nhóm của anh M đánh trả, nhóm T bị thua nên đã bỏ chạy (không có ai bị thương).

Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/02/2021, T cùng T2, K về bãi đất trống thuộc khu phố B, phường B, thành phố B, còn H đi về trước. Tại đây, do bực tức vì bị thua nhóm anh M nên T rủ thêm bạn của T là Nguyễn Hữu D (sinh năm 1997, ngụ tại A, khu phố C, phường T, thành phố B) và Nguyễn Đỗ Quốc K2 (sinh năm 2002, ngụ tại K, ấp T, phường B, thành phố B) cùng với T2, K2 tụ tập để tiếp tục chuẩn bị hung khí quay lại đánh nhóm của anh M. D và Quốc K2 đi chung 01 xe mô tô và mang đến một bao hung khí gồm dao phóng lợn, tuýp sắt, cây ba chĩa, dao tự chế rồi cất giấu tại bãi đất trống để cho cả nhóm sử dụng đi đánh nhau. Lúc này, Nguyễn Thành Đ cũng điều khiển xe mô tô biển số 61H1 – 3382 đến bãi đất trống để chơi và được T rủ đi đánh nhau với nhóm của M, Đ đồng ý.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi cả nhóm đang chia hung khí, T2 đang cầm một cây ba chĩa, K2 cầm cây tuýp sắt, Đ cầm một cây dao phóng lợn, D và Quốc K2 cầm dao phòng lợn để chuẩn bị chờ T dẫn đi đánh nhóm của anh M thì bị Công an phường B phát hiện đưa về làm việc.

Ngày 14/9/2023, Lý T2, Trần Quang K và Nguyễn Thành Đ bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Riêng T, D và Quốc K2 bỏ chạy thoát, đến ngày 21/01/2024, T bị bắt theo Lệnh truy nã.

Quá trình điều tra Đỗ Thành Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) cây tuýp sắt hình trụ tròn dài 185cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt hình trụ tròn, hai đầu dẹt dài 216cm;
  • 05 (năm) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) mỗi cây có kích thước dài lần lượt 212cm, 229cm, 219cm, 185cm và 201cm;
  • 01 (một) cây tuýp một đầu gắn 03 cây đinh sắt (cây đinh ba) dài 195cm.
  • 01 (một) cây tuýp sắt trên thân có quấn dây đỏ, một đầu hàn một lưỡi dao dài 140cm.

Các hung khí trên đã được xử lý tại Bản án số 193/2023/HSST ngày 05/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.

*Tại Kết luận giám định số 2434/KL-KTHS ngày 28/4/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:

  • 01 (một) cây tuýp sắt hình trụ tròn dài 185cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt hình trụ tròn, hai đầu dẹt dài 216cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 212cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 229cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 219cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 185cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 201cm;
  • 01 (một) cây tuýp một đầu gắn 03 cây đinh sắt (cây đinh ba) dài 195cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt trên thân có quấn dây đỏ, một đầu hàn một lưỡi dao dài 140cm là hung khí nguy hiểm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Thành Thanh T thừa nhận hành vi rủ rê Lý T2, Trần Quang K, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Hữu D và Nguyễn Đỗ Quốc K2 chuẩn bị hung khí gồm: 05 cây dao phóng lợn, 02 tuýp sắt, 01 cây đinh ba và 01 cây tuýp sắt đầu hàn gắn lưỡi dao để đánh nhóm của anh Võ Hoàng M thì bị tổ tuần tra của Công an phường B, thành phố B phát hiện. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Bản cáo trạng số 275/CT-VKSBH ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Đỗ Thành Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đỗ Thành Thanh T thừa nhận hành vi rủ rê Lý T2, Trần Quang K, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Hữu D và Nguyễn Đỗ Quốc K2 chuẩn bị hung khí nguy hiểm để đánh nhóm của anh Võ Hoàng M thì bị phát hiện.

Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Thành Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thành Thanh T từ 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù.
  • Về xử lý vật chứng: Các hung khí trên đã được xử lý tại Bản án số 193/2023/HSST ngày 05/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.
  • Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo Đỗ Thành Thanh T nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trên cơ sở tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo, người làm chứng có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 17 giờ ngày 06/02/2021, sau khi bị nhóm anh Võ Hoàng M đuổi đánh. Đến 20 giờ cùng ngày, Đỗ Thành Thanh T rủ rê Lý T2, Trần Quang K, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Hữu D và Nguyễn Đỗ Quốc K2 tụ tập tại bãi đất trống thuộc khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và chuẩn bị hung khí gồm: 05 cây dao phóng lợn, 02 tuýp sắt, 01 cây đinh ba và 01 cây tuýp sắt đầu hàn gắn lưỡi dao để đánh nhóm của anh Võ Hoàng M nhưng chưa kịp đánh thì bị tổ tuần tra của Công an phường B, thành phố B phát hiện.

*Tại Kết luận giám định số 2434/KL-KTHS ngày 28/4/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:

  • 01 (một) cây tuýp sắt hình trụ tròn dài 185cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt hình trụ tròn, hai đầu dẹt dài 216cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 212cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 229cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 219cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 185cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt một đầu có gắn dao bầu (dao phóng lợn) dài 201cm;
  • 01 (một) cây tuýp một đầu gắn 03 cây đinh sắt (cây đinh ba) dài 195cm;
  • 01 (một) cây tuýp sắt trên thân có quấn dây đỏ, một đầu hàn một lưỡi dao dài 140cm là hung khí nguy hiểm.

[3] Do đó, hành vi chuẩn bị hung khí nguy hiểm, rủ rê lôi kéo các đối tượng khác nhằm mục đích gây thương tích cho người khác của bị cáo Đỗ Thành Thanh T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rõ hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn rủ rê và chuẩn bị hung khí nhằm gây thương tích cho người khác, nên cần có mức hình phạt thật nghiêm để răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Các hung khí trên đã được xử lý tại Bản án số 193/2023/HSST ngày 05/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Hữu D và Nguyễn Đỗ Quốc K2 có hành vi chuẩn bị nhằm gây thương tích cho người khác, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn. Đến ngày 24/12/2021, D và K2 đã tử vong do tai nạn giao thông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Đỗ Thành Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành T5 Trọng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thành Thanh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đỗ Thành Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Thành Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa;
  • Cơ quan thi hành án hình sự thành phố Biên Hòa;
  • Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • Bị cáo;
  • Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 265/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 265/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Đỗ Thành Thanh T 06 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger