|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 265/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khóa, ông Phạm Công Định.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 303/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 224/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991. ĐKHKTT: Thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Người được chị T ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1990. Địa chỉ liên hệ: Số H N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Vũ Bá Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Bá Đ1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Vũ Bá Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 15/10/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong xử lý các vấn đề của cuộc sống. Năm 2017, chị đi lao động tại Đài Loan, anh Đ đi lao động tại Nhật Bản. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau các công việc trong gia đình. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh Đ.
Chị và anh Đ có 01 con chung là Vũ Thị Thanh T2- sinh ngày 10/01/2015. Chị đề nghị để anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000/tháng kể từ khi ly hôn cho tới khi con chung thành niên. Chị đồng ý để bố mẹ đẻ của anh Đ là ông Vũ Bá Đ1 và bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc cháu T2 trong thời gian anh Đ không có mặt ở Việt Nam.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của anh Vũ Bá Đ phản ánh: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh Đ, chị T ở cùng với gia đình bà và không xảy ra mâu thuẫn gì. Năm 2017, anh Đ đi lao động tại Nhật Bản, chị T đi lao động tại Đài Loan. Do mỗi người ở một nơi nên vợ chồng không có điều kiện để kịp thời quan tâm, động viên và hỗ trợ nhau trong cuộc sống dẫn đến tình cảm lạnh nhạt, xa cách. Khi vợ chồng nói với bà về việc ly hôn, bà đã động viên, khuyên bảo nhưng hai bên đều xác định không thể đoàn tụ cùng nhau được. Hiện bà cũng không có biện pháp nào khác giúp vợ chồng hàn gắn tình cảm. Vợ chồng vẫn gửi tiền về cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Vũ Thị Thanh T2 từ năm 2017 đến nay. Anh Đ thường xuyên liên lạc qua điện thoại với bà nhưng bà không biết địa chỉ sinh sống ở Nhật Bản của anh Đ nên không có thông tin để cung cấp cho Tòa án. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay anh Đ và đã thông báo cho anh Đ biết. Anh Đ có quan điểm nhất trí ly hôn chị T, nhất trí trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Thị Thanh T2 và nhất trí việc chị T cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn cho tới khi con chung thành niên. Anh Đ không yêu cầu giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh. Anh Đ ủy quyền cho vợ chồng bà và vợ chồng bà nhất trí nhận ủy quyền của anh Đ về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 trong thời gian anh Đ không có mặt ở Việt Nam.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Vũ Bá Đ. Giao con chung là Vũ Thị Thanh T2- sinh ngày 10/01/2015 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 7/2024 cho tới khi con chung thành niên. Tạm giao cháu T2 cho ông Vũ Bá Đ1, bà Nguyễn Thị H chăm sóc trong thời gian anh Đ không có mặt ở Việt Nam. Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Anh Vũ Bá Đ đang sinh sống tại Nhật Bản. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của anh Đ ở thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Bá Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 15/01/2013. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Từ trình bày của chị T và bà Nguyễn Thị H, có cơ sở xác định chị T và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Mặc dù đã được gia đình hòa giải, động viên nhưng cả hai bên đều xác định không thể đoàn tụ cùng nhau. Nhận thấy hôn nhân giữa chị T và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị T xin ly hôn anh Đ, anh Đ nhất trí ly hôn chị T nhưng vì các đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa nên cần xử cho chị T được ly hôn anh Đ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị T và anh Đ có một con chung là Vũ Thị Thanh T2- sinh ngày 10/01/2015. Các đương sự thống nhất giao cháu T2 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu T2 muốn ở cùng anh Đ nên được chấp nhận. Chị T đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn cho tới khi con chung thành niên và được anh Đ nhất trí nên cần chấp nhận sự thỏa thuận này của các đương sự. Anh Đ ủy quyền cho ông Đ1, bà H; ông Đ1, bà H nhất trí nhận ủy quyền của anh Đ về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 trong thời gian anh Đ không có mặt ở Việt Nam là tự nguyện nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Bá Đ.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Vũ Thị Thanh T2- sinh ngày 10/01/2015 cho anh Vũ Bá Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Đ là 2.000.000đ/tháng (hai triệu đồng một tháng) kể từ tháng 7/2024 cho tới khi con chung thành niên. Cấp dưỡng theo tháng.
Tạm giao cháu Vũ Thị Thanh T2 cho ông Vũ Bá Đ1, bà Nguyễn Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Vũ Bá Đ không có mặt ở Việt Nam.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (do anh Nguyễn Ngọc T1 nộp thay) theo biên lai số 0000773 ngày 05/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
Bản án số 265/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 265/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn anh Đ
