|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 265/2024/DS-ST Ngày: 30-9-2024 V/v: Tranh chấp quyền về lối đi qua |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Bé Hai.
- 2. Bà Võ Thị Điệp.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quang Trí - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 780/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền về lối đi qua”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 454/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 540/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến L - sinh năm 1956 và bà Đinh Thị H - sinh năm 1959; Cùng địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Bà Đinh Thị H - sinh năm 1959; Cùng địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo văn bản ủy quyền ngày 23/9/2024, bà H có mặt tại phiên tòa.
- - Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh C - sinh năm 1956, anh Nguyễn Chính V - sinh năm 1990; bà Ngô Thị S - sinh năm 1928; Cùng địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, tất cả đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2023, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Tiến L, bà Đinh Thị H trình bày như sau:
Ngày 09/02/2018, ông L đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.766,7m², thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do ông Nguyễn Tiến L đại diện hộ gia đình đứng tên. Tuy nhiên, thửa đất của ông bị vây bọc bởi các thửa đất của bà Ngô Thị S, ông Trần Văn Ú và anh Nguyễn Chính V.
Trước đó vào năm 1986, ông L cho rằng có mua con mương diện tích 300m² và phần đất mà bà Ngô Thị S, bà Lê Thị Thanh C hiện đang sử dụng. Trước đây, con mương sử dụng làm đường dẫn nước và di chuyển bằng xuồng, đồng thời là lối đi chung của những hộ dân xung quanh phía sau để ra Quốc lộ C. Sau này, con mương lắng động lại, không di chuyển bằng xuồng được.
Trong thời gian đó, ông L đã phải xin đi nhờ ngang qua đất của người khác, nhưng được một thời gian thì họ đã chia đất cho con, con của họ không cho đi nhờ để ra Quốc lộ C nên rất khó khăn trong việc đi lại, sinh hoạt hàng ngày và mua bán sản xuất nông nghiệp.
Con mương trước đây có chiều khoảng ngang 03m, chiều dài khoảng 100m hiện nay tiếp giáp đất của bà Lê Thị Thanh C (thuộc thửa số 472 và thửa số 24, cùng tờ bản đồ số 4) và anh Nguyễn Chính V (thuộc thửa số 39, tờ bản đồ số 4), đất cùng tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 25/4/2023 và ngày 26/4/2023, UBND xã M đã tiến hành hòa giải nhưng bà Ngô Thị S, ông Trần Văn Ú và anh Nguyễn Chính V không tham gia nên không hòa giải được.
Hiện nay, ngoài sử dụng con mương để làm lối đi thì ông L, bà H không còn lối đi nào khác ra đến Quốc lộ C.
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bà Ngô Thị S, ông Trần Văn Ú và anh Nguyễn Chính V cho ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H được sử dụng con mương để làm lối đi chung chiều ngang 03m, chiều dài khoảng 100m, diện tích khoảng 300m², thuộc một phần các thửa số 39, thửa số 472 và thửa số 24 cùng tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tuy nhiên, sau khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì phát sinh một phần đất bà Ngô Thị S đã sang tên đất cho bà Lê Thị Thanh C; đồng thời phần đất tranh chấp không liên quan gì đến diện tích đất của ông Trần Văn Ú nên nguyên đơn không yêu cầu gì đối với ông Trần Văn Ú và bà Ngô Thị S.
Do đó, ngày 17/5/2024 các nguyên đơn có Đơn khởi kiện bổ sung với nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Yêu cầu bà Lê Thị Thanh C và ông Nguyễn Chính V cho các nguyên đơn được sử dụng con mương để làm lối đi chung cụ thể như sau:
- - Đối với phần diện tích 250,3m² của bà Lê Thị Thanh C được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M10-M11-M12-M13-M14-M15-M16-M17-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
- - Đối với phần diện tích đất 33,9m² của anh Nguyễn Chính V được xác định trong phạm vi các mốc M7-M8-M9-M10-M7 theo sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn tiếp tục rút lại một phần yêu cầu đối với diện tích đất của anh Nguyễn Chính V thuộc một phần thửa số 39, tờ bản đồ số 4, tọa lạc xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Nay nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bà Lê Thị Thanh C mở lối đi với diện tích 250,3m² trên phần đất của bà Lê Thị Thanh C thuộc một phần thửa số 472 và 24 cùng tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; diện tích đất được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M10-M11-M12-M13-M14-M15-M16-M17-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
- - Về Sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập thì nguyên đơn thống nhất, không có ý kiến gì.
- - Về giá trị đất thì nguyên đơn thống nhất với giá trị đất do Hội đồng định giá đã xác định và đồng ý trả giá trị tương ứng với diện tích đất của bà C bị mất.
* Bị đơn bà Lê Thị Thanh C trình bày như sau:
- - Đối với phần đất thuộc thửa số 472 và 24, cùng tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc của bà Ngô Thị S (mẹ ruột của bà) nhận chuyển nhượng của ông Luyện Quang Đ từ năm 1995 đến nay. Tuy nhiên, hiện nay bà đã được bà S tặng cho toàn bộ diện tích đất thuộc thửa số 472 và 24 nêu trên.
- - Bà xác định trước đây phần đất tranh chấp là con mương để dẫn nước ra phía sau phục vụ tưới tiêu nhưng phần đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của bà. Thời gian trước giữa bà và nguyên đơn cũng đã có thỏa thuận làm lối đi chung trên phần đất của bà nhưng không thành. Nguyên đơn cứ khẳng định phần đất tranh chấp là đất công cộng do nhà nước quản lý nhưng lại khởi kiện bà yêu cầu bà mở lối đi là chưa phù hợp.
- Tại phiên hòa giải ngày 19/6/2024, bà C vẫn đồng ý mở lối đi cho nguyên đơn được sử dụng trên phần đất của bà thuộc thửa số 472 và 24 nêu trên, tuy nhiên bà chỉ đồng ý diện tích chiều ngang 1,5 mét, chiều dài từ mương lộ đến đầu đất của nguyên đơn. Bà yêu cầu nguyên đơn phải trả giá trị tương đương với diện tích đất của bà bị mất. Đối với Sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập thì bà thống nhất, chỉ yêu cầu điều chỉnh lại diện tích lối đi như bà đã trình bày. Về giá trị quyền sử dụng đất thì bà sẽ thỏa thuận lại với gia đình sau và sẽ có yêu cầu gửi cho Tòa án.
- - Đến ngày 20/6/2024, bà Lê Thị Thanh C có Văn bản ý kiến không thống nhất với nội dung hòa giải ngày 19/6/2024, bà C không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn bởi vì diện tích đất của gia đình không nhiều, các anh chị em trong gia đình còn khá đông và đang khó khăn về chỗ ở chưa có nhu cầu tự lập được. Đồng thời, đây là đất hương quả sau này sử dụng để thực hiện theo nội dung di chúc nên không được sang bán cho ai.
* Bị đơn anh Nguyễn Chính V trình bày như sau:
- - Đối với phần đất thuộc thửa số 39, tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc do anh nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn V1. Lúc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phần đất tranh chấp là con mương lạng nhưng có trụ đá để xác định ranh đất với bà C ở vị trí 1/3 con mương (nghiêng về phía đất anh). Phần đất anh nhận chuyển nhượng thì anh cũng đã sử dụng đúng vị trí mốc giới và cũng không lấn chiếm đất của ai. Anh cũng đã xây dựng công trình kiến trúc trên đất để làm cơ sở sản xuất kinh doanh ổn định, nay các nguyên đơn yêu cầu mở lối đi trên đất của anh thì sẽ phá vỡ kết cấu công trình trên đất và ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của anh.
- - Từ các lý do trên, anh không đồng ý mở lối đi theo yêu cầu của các nguyên đơn trên phần đất của anh với diện tích đất 33,9m² được xác định trong phạm vi các mốc M7-M8-M9-M10-M7 theo sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
- - Đối với Sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá thì anh cũng không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án:
- + Căn cứ Điều 217, 224 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc mở lối đi nằm trong phạm vi các mốc M7- M8- M9-H.
- + Căn cứ Điều 245, 246, 247, 248, 254 Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, công nhận cho nguyên đơn được sử dụng phần lối đi nằm trên thửa 472 và thửa số 24 của bà Lê Thị Thanh C, lối đi có chiều ngang 1,5m, chiều dài một cạnh là đường thẳng nối các mốc M2-M3-M4-M5-M6-M7-M10 theo sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023, cạnh còn lại song song cách 1,5m kéo về phía thửa 472 và thửa số 24. Các nguyên đơn phải đền bù giá trị quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Thanh C theo giá mà Hội đồng định giá đã xác định, tương ứng với phần diện tích lối đi được công nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu của ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H về việc yêu cầu bà Lê Thị Thanh C mở lối đi qua đất của bà C thuộc một phần thửa số 472 và 24 cùng tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để làm lối đi từ đất của ông L, bà H đi ra đến Quốc lộ C. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp quyền về lối đi qua” theo quy định tại Điều 254 Bộ luật dân sự và khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đối tượng đang tranh chấp là quyền sử dụng đất ở xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về sự sự vắng mặt của các đương sự: Các đương sự trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đối với bị đơn anh Nguyễn Chính V và bà Lê Thị Thanh C văn bản xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xác định phần đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của bà Ngô Thị S nên rút lại yêu cầu đối với bà S; đối với phần diện tích tranh chấp thuộc một phần thửa số 39 của anh V thì cũng đã xây dựng công trình kiên cố nên nguyên đơn cũng xin rút lại yêu cầu đối với anh Nguyễn Chính V. Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và phù với với quy định tại Điều 224 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[5] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bà Lê Thị Thanh C mở lối đi với diện tích 250,3m² trên phần đất của bà Lê Thị Thanh C thuộc một phần thửa số 472 và 24 cùng tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; diện tích đất được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M10-M11-M12-M13-M14-M15-M16-M17-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 09/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ. Hội đồng xét xử nhận định:
[6] Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Tiến L thuộc thửa số 29, diện tích 2.766,7m² (loại đất nuôi trồng thủy sản), tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Đối chiếu sang bản đồ địa chính cũng như Sơ đồ đo đạc của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác lập ngày 09/10/2023 đã thể hiện thửa số 29 của ông L bị vây bọc bởi với thửa số 24 và 427 của bà Lê Thị Thanh C, thửa số 262 của ông Trần Văn Ú, thửa số 39 của anh Nguyễn Chính V.
[7] Về diện tích đất đang tranh chấp, nguyên đơn trình bày trước đây phần đất tranh chấp là con mương dẫn nước từ mương lộ vào đến đất của nguyên đơn. Nguyên đơn cũng sử dụng con mương này để làm lối đi chính, phương tiện di chuyển chủ yếu bằng xuồng, sau đó con mương này đã cạn nước không di chuyển bằng xuống được nên nguyên đơn tiếp tục đi nhờ qua đất của ông Trần Văn Ú để ra đến Quốc lộ C. Nay ông Ú đã chuyển quyền sử dụng đất cho các con của ông và đã xây dựng hàng rào nên việc ra vào rất khó khăn. Nhận thấy việc mở lối đi trên con mương trước đây là thuận tiện nhất, ngoài lối đi này thì không còn lối đi nào khác thuận tiện hơn nên nguyên đơn yêu cầu bà Lê Thị Thanh C phải tạo điều kiện cho nguyên đơn được mở lối đi trên phần đất tranh chấp này.
[8] Về phía bà Lê Thị Thanh C có ý kiến cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà nên bà không đồng ý mở lối đi theo yêu cầu của nguyên đơn. Bởi vì diện tích đất của gia đình không nhiều, các anh chị em trong gia đình còn khá đông và đang khó khăn về chỗ ở chưa có nhu cầu tự lập được. Đồng thời, đây là đất hương quả sau này sử dụng để thực hiện theo nội dung di chúc nên không được sang bán cho ai.
[9] Xét thấy: Tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ. Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
[10] Nhận thấy việc sử dụng diện tích đất đang tranh chấp để làm lối đi từ thửa đất của ông L ra đường công cộng là Quốc lộ C thì đây là lối đi duy nhất đảm bảo điều kiện thuận tiện và hợp lý nhất. Do đó để đảm bảo quyền lợi của chủ sử dụng đất chịu hưởng quyền và chủ sử dụng đất hưởng quyền bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề thì cần mở lối đi tại vị trí tranh chấp để cho nguyên đơn được sử dụng làm lối đi ra đường công cộng và buộc nguyên đơn phải đền bù thiệt hại do sử dụng lối đi trên phần diện tích đất đã cấp quyền sử dụng cho bà Lê Thị Thanh C.
[11] Căn cứ vào nhu cầu thực tế của nguyên đơn về việc chỉ sử dụng đất để làm lối đi từ đường công cộng đến phần đất của mình đồng thời xét đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là bà C. Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu mở lối đi trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà C có diện tích như sơ đồ đo đạc là chưa phù hợp.
[12] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc mở lối đi qua bất động sản liền kề là diện tích có chiều ngang là 1,5 mét, chiều dài từ mương lộ đến đất của nguyên đơn theo sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 thuộc một phần thửa số 472 và thửa số 24 cùng tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã được cấp quyền sử dụng cho bà Lê Thị Thanh C. Diện tích đất cụ thể bao gồm 138,8m² thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác định trong phạm vi các mốc M3-M4-M5-M6-7M-H-M10-G-F-E-D-C-B-M3 theo sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 và diện tích đất 2,5m² thuộc một phần thửa số 24, tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác định trong phạm vi các mốc M2-M3-B-A theo sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024.
[13] Về nghĩa vụ đền bù: Ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H là chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải có nghĩa vụ đền bù giá trị cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền là bà Lê Thị Thanh C theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá do Tòa án thành lập thể hiện giá trị đất cao nhất loại đất trồng cây lâu năm thuộc khu vực 1, vị trí 1 là 270.000 đồng/m², tại phiên tòa, nguyên đơn thống nhất đền bù cho bà C theo giá đất 270.000 đồng/m² tương ứng với diện tích đất mở lối đi. Căn cứ vào sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 thì tổng diện tích đất được sử dụng để làm lối đi là 141,3m², tương ứng với giá trị đất 270.000 đồng thì ông L bà H phải đền bù cho bà Lê Thị Thanh C với số tiền là 38.151.000 đồng.
[14] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H tự nguyện chịu án phí yêu cầu quyền về lối đi qua không có giá ngạch là 300.000 đồng và án phí có giá ngạch đối với trách nhiệm đền bù số tiền 38.151.000 đồng là 1.908.000 đồng.
[15] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng là 3.270.814 đồng, nguyên đơn ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H tự nguyện chịu toàn bộ, đã nộp và đã chi xong.
[16] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đề nghị xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử như đã nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 245, Điều 248 và Điều 254 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 29 và Điều 133 Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguyên đơn ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H đối với bị đơn bà Lê Thị Thanh C về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề.
- - Buộc bà Lê Thị Thanh C phải dành một lối đi cho ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H có chiều ngang 1,5 mét, dài từ giáp thửa số 29 của ông Nguyễn Tiến L đến mương lộ công cộng, với diện tích đất 138,8m² thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác định trong phạm vi các mốc M3-M4-M5-M6-M7-H-M10-G-F-E-D-C-B-M3 theo sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 và diện tích đất 2,5m² thuộc một phần thửa số 24, tờ bản đồ số 4, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được xác định trong phạm vi các mốc M2-M3-B-A theo sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024.
- (Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 của Trung tâm K).
- - Ông Nguyễn Tiến L, bà Đinh Thị H được quyền sử dụng hạn chế đối với lối đi có diện tích 141.3m² thuộc một phần thửa 472 và một phần thửa số 24, cùng tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do bà Lê Thị Thanh C đứng tên quyền sử dụng. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đăng ký biến động để xác lập quyền sử dụng hạn chế đối với các thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật dân sự và phải thực hiện đăng ký biến động theo quy định tại Điều 133 của Luật đất đai năm 2024.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H phải về việc có nghĩa vụ đền bù do sử dụng hưởng quyền về lối đi qua cho bà Lê Thị Thanh C với số tiền là 38.151.000 (ba mươi tám triệu, một trăm năm mươi mốt) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tiến L và bà Đinh Thị H tự nguyện chịu án phí không có giá ngạch (đối với yêu cầu quyền về lối đi qua) là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và đồng ý chịu án phí có giá ngạch (đối với nghĩa vụ đền bù) là 1.908.000 (một triệu, chín trăm lẻ tám nghìn) đồng.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Tiến L, bà Đinh Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo đạc, chi phí định giá tài sản và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tổng cộng là 3.270.814 (ba triệu, hai trăm bảy mươi nghìn, tám trăm mười bốn) đồng, đã nộp và đã chi xong.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường C1 |
Bản án số 265/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH về tranh chấp quyền về lối đi qua
- Số bản án: 265/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền về lối đi qua
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguyên đơn ông Nguyễn Tiến Lành và bà Đinh Thị Hảo đối với bị đơn bà Lê Thị Thanh Châu về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề. - Buộc bà Lê Thị Thanh Châu phải dành một lối đi cho ông Nguyễn Tiến Lành và bà Đinh Thị Hảo có chiều ngang 1,5 mét, dài từ giáp thửa số 29 của ông Nguyễn Tiến Lành đến mương lộ công cộng, với diện tích đất 138,8m2 thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 4, xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp được xác định trong phạm vi các mốc M3-M4-M5-M6-M7-H-M10-G-F-E-D-C-B-M3 theo sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 và diện tích đất 2,5m2 thuộc một phần thửa số 24, tờ bản đồ số 4, xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp được xác định trong phạm vi các mốc M2-M3-B-A theo sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024. (Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc ngày 30/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường Đồng Tháp). - Ông Nguyễn Tiến Lành, bà Đinh Thị Hảo được quyền sử dụng hạn chế đối với lối đi có diện tích 141.3m2 thuộc một phần thửa 472 và một phần thửa số 24, cùng tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp do bà Lê Thị Thanh Châu đứng tên quyền sử dụng. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đăng ký biến động để xác lập quyền sử dụng hạn chế đối với các thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật dân sự và phải thực hiện đăng ký biến động theo quy định tại Điều 133 của Luật đất đai năm 2024.